Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - "NGƯỜI CHỈ HUY THAO LƯỢC” TRÊN THƯƠNG TRƯỜNG



                                                                Đặng Bá Tiến

       Đó là cách gọi thể hiện sự kính trọng, cảm phục của giới kinh doanh cà phê Tây Nguyên dành cho ông Lê Đức Thống - Chủ tịch Hội đồng thành viên, kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Cty 2-9). Bởi 18 năm (từ 1994 đến nay) ông làm thủ lĩnh của Cty 2-9, là 18 năm doanh nghiệp (DN) này liên tục phát triển; mặc dù thương trường cà phê những năm qua thực sự là một chiến trường khốc liệt, sự khốc liệt đó đã khiến không ít DN cà phê “sập tiệm”, không ít thủ lĩnh DN cà phê phải “ngã ngựa”…

Đã làm báo ở Đắk Lắk 25 năm nên tôi hiểu khá rõ về ông. Còn nhớ cách đây 18 năm (1994), ông nhậm chức giám đốc Cty 2-9. Bấy giờ, vốn liếng của DN, ông nhận được từ người tiền nhiệm tất tần tật chỉ có 542 triệu đồng, trong đó vốn cố định 349 triệu đồng, vốn lưu động 193 triệu đồng. Đấy cũng chỉ là con số trên sổ sách, còn giá trị thực không đến vậy; bởi cái xưởng làm bia hơi và cái xưởng chế biến gỗ sắp hết thời, doanh thu mỗi ngày chẳng được bao nhiêu, còn vốn lưu động thực chất chỉ có 150 triệu đồng. Thời ấy, nhậm chức xong, tôi biết ông đã phải trằn trọc nhiều đêm không ngủ được. Không ngủ được vì băn khoăn, lo lắng: Vốn liếng ít ỏi, xoay xở cách nào đây? Sản xuất, kinh doanh cái gì? Chiến lược kinh doanh ngắn hạn, dài hạn như thế nào? Việc gì phải làm trước? Việc gì giải quyết sau? Làm sao để nuôi đủ 31 CBNV, để DN phát triển và đóng góp có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà?... Biết bao câu hỏi được đặt ra trong đầu, buộc ông phải tự trả lời, khiến ông phải mất ngủ hàng tháng trời, mất ngủ đến rộc cả người. Chính từ những đêm mất ngủ đó đã lóe sáng, khai mở dần trong đầu ông một hướng đi cho DN, để Cty 2-9 phát triển cho đến ngày nay, trở thành một trong 500 DN lớn nhất nước ta, một trong 1000 DN đóng thuế lớn nhất nước ta, một trong 9 DN được Tổng cục Hải quan xếp hạng ưu tiên (không phải kiểm tra trước lúc thông quan), được nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất; và bản thân ông được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hai lần được phong tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc, danh hiệu Doanh nhân tiêu biểu và nhiều danh hiệu cao quý khác.
                                 
                                                         +
Nhìn vào những con số của Cty 2-9 hiện nay, đủ cho ta thấy sự phát triển mạnh mẽ và tầm vóc, vị thế của đơn vị trong đội ngũ các DN kinh doanh, xuất khẩu cà phê ở nước ta: Hiện công ty có 405 CBNV; kinh doanh 28 ngành nghề, nhưng ngành nghề chủ yếu là mua bán, chế biến, xuất khẩu cà phê, nông sản. Năm 2012 doanh thu khoảng 6.500 tỷ đồng; xuất khẩu gần 130.000 tấn cà phê nhân, 5.000 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch khoảng 300 triệu USD. Nếu nhìn tổng thể cả 18 năm, kể từ khi ông Lê Đức Thống làm thủ lĩnh Cty 2-9 đến nay thì: Tổng doanh thu đã đạt trên 31.350 tỷ đồng, bình quân đạt 1650 tỷ đồng/năm; so với năm 1994, doanh thu năm 2012 gấp 31 lần. Chỉ riêng cà phê DN đã xuất khẩu trên 1,3 triệu tấn, bình quân mỗi năm 70.000 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu gần 1,8 tỷ USD, bình quân mỗi năm gần 100 triệu USD; so với năm 1994, kim ngạch xuất khẩu hiện nay đã tăng gần 15 lần. 18 năm qua Cty đã nộp ngân sách trên 310 tỷ đồng, bình quân đạt trên 16 tỷ đồng/năm, bình quân mỗi CBNV nộp ngân sách 80 triệu đồng/năm. Tổng lợi nhuận trên 240 tỷ đồng, bình quân đạt 63 triệu đồng/người/năm. Thu nhập bình quân của người lao động đạt 7 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, chỉ tính từ năm 2007 đến nay, Cty đã tham gia các chương trình xã hội, từ thiện với tổng kinh phí trên 3 tỷ đồng. Riêng đầu năm 2012 đến nay Cty đã làm công tác xã hội, từ thiện trên 500 triệu đồng…
                                          
                                                      +
Biết ông Lê Đức Thống là một nhà kinh doanh cà phê giỏi, từ lâu tôi đã muốn viết về ông, nhưng ông đều từ chối. Ông là người khiêm tốn, ít nói và đặc biệt rất ít nói về bản thân, về DN của mình. Dù Cty 2-9 là một DN xuất khẩu cà phê hàng đầu của nước ta, nhưng trong nhiều hội nghị của ngành cà phê, tôi thấy ông thỉnh thoảng mới phát biểu, mà cũng chỉ phát biểu đề đạt nguyện vọng của DN, những khó khăn của DN cần được các cơ quan chức năng hỗ trợ tháo gỡ để DN hoạt động tốt hơn, chẳng bao giờ ông nói về thành tích của DN mình như giám đốc một số DN khác. Bởi vậy, lần này đến gặp ông tại văn phòng Cty, không với tư cách nhà báo mà là tư cách bạn bè, đồng niên, tôi nửa đùa nửa thật, rằng:
     - Anh sắp hưu rồi. Anh không cho tôi biết về những bí quyết làm ăn của anh… định mang những bí quyết ấy về thế giới bên kia hay sao?      
Ông cười, cầm tay tôi kéo ngồi xuống ghế, rót nước mời tôi, rồi chậm rãi:
- Nào tôi có bí quyết gì đâu. Tôi cũng học tập theo lời dạy của Bác Hồ thôi. Bác dạy “Đoàn kết đại đoàn kết – Thành công đại thành công”. Bác cũng dạy: “Hòn đá to/ Hòn đá nặng/ Một người nhắc/ Nhắc không đặng/ Hòn đá nặng/ Hòn đá bền/ Một người nhắc/ Nhắc không lên/Hòn đá to/ Hòn đá nặng/ Nhiều người nhắc/ Nhắc lên đặng/ Biết đồng sức/ Biết đồng lòng/ Việc gì khó/ Làm cũng xong! Đoàn kết tốt trong lãnh đạo Cty, trong toàn thể CBNV, cùng thống nhất ý chí hành động. Đấy là nền tảng, là gốc rễ để thành công.
- Nhưng làm cách nào để đoàn kết được anh em? Tôi hỏi.
Ông ngồi ngả người vào ghế, trả lời không hề phải suy nghĩ:
- Bản thân người lãnh đạo phải vô tư, trong sáng, phải thấm nhuần thật sâu sắc lời Bác dạy “Liêm – Chính - Chí công - Vô tư”. Lãnh đạo mà chỉ lo tư túi, cục bộ địa phương thì chẳng thể nào đoàn kết được anh em, anh em sẽ không tâm phục khẩu phục và rồi họ cũng sẽ học theo cái xấu của anh mà tư túi, tiêu cực. Từ đó DN sẽ rối tung lên vì kiện cáo, vì dính đến pháp luật, còn đâu thời gian, tâm sức mà lo cho sự nghiệp chung... Đấy, nếu có thể nói là “bí quyết”, thì bí quyết thứ nhất của tôi là vậy. Thứ hai, trong làm ăn anh phải thực hiện đúng phương châm “Uy tín – chất lượng – hiệu quả”. Với đối tác  anh phải luôn luôn giữ chữ “Tín”, mất chữ “Tín” là mất hết. Vay vốn làm ăn phải trả đúng hạn. Giao hàng cho khách phải đúng phẩm cấp, đúng thời gian. Làm ăn mà không thực hiện đúng cam kết thì anh sẽ mất hết khách hàng, mất hết bạn bè, mất hết chỗ dựa và tất yếu sẽ… suy sụp. 18 năm tôi làm giám đốc Cty 2-9 đã xuất khẩu trên 1,3 triệu tấn cà phê, nhưng chưa bao giờ khách hàng phải than phiền về chất lượng, thời gian giao hàng, chưa bao giờ Cty 2-9 trả nợ ngân hàng chậm một ngày. Ngân hàng luôn luôn xếp chúng tôi là “Bạn hàng loại A”. Cũng bởi thế Tổng cục Hải quan mới công nhận chúng tôi là một trong 9 doanh nghiệp ưu tiên, không cần kiểm tra trước khi thông quan. Đấy là những “bí quyết” chung nhất để DN trụ vững trong cơ chế hiện nay.
- Nhưng tôi biết anh còn có “bí quyết” riêng nữa để bán cà phê trực tiếp cho các nhà rang xay, với giá cao hơn thiên hạ tới nửa triệu đồng/tấn, trong khi các DN khác phải bán qua trung gian…
Anh cười và nói vui:
- Các ông làm báo cũng biết nhiều chuyện của ngành cà phê nhỉ… Nói thật nhé: Đấy là biện pháp quan trọng để chúng tôi nâng cao hiệu quả kinh doanh. Để làm được việc này, đòi hỏi người lãnh đạo phải tinh, nhạy trong tìm kiếm và tiếp cận thị trường. Không như nhiều DN khác cử cán bộ đi nước ngoài là… gần như đi chơi. Chúng tôi cử cán bộ đi nước ngoài là để tìm hiểu cách làm ăn của họ, để học cái hay của họ, để biết các nhà rang xay - người tiêu thụ sản phẩm cuối cùng của mình - họ mua cà phê của Việt Nam từ DN trung gian thì giá cả như thế nào? Chất lượng ra sao? Các thủ tục mua bán trực tiếp gồm những gì?... Từ đó, chúng tôi “bắt tay thẳng” với họ, khỏi qua trung gian. Cách làm này chúng tôi mới tiến hành được 3 năm nay, nhưng đã có trên 50% sản phẩm được bán trực tiếp cho các nhà rang xay nổi tiếng thế giới như Nestlé, Lavazza, Ahold… với giá bán cao hơn so với bán qua DN trung gian mỗi tấn tới vài ba chục đô (USD)… Tất nhiên để làm được điều này cũng không phải dễ, anh phải có uy tín, có thực lực, đào tạo được đội quân nhanh nhẹn, thiện chiến trong nghề kinh doanh. Ngoài ra, để kinh doanh có hiệu quả còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, ví như lúc nào thì phát lệnh mua, lúc nào thì phát lệnh dừng, lúc nào thì bán, lúc nào thì thôi… Anh không có kinh nghiệm, không nhạy với “thời tiết” thị trường thế giới thì khó mà “phát lệnh” chính xác được. Thủ lĩnh mà không tinh, nhạy, “phát lệnh” sai, DN sập tiệm như chơi…
                                                          +   
Ngồi với ông Lê Đức Thống chỉ mấy chục phút thôi, nhưng tôi đã có dịp hiểu sâu sắc thêm cách gọi “Người chỉ huy thao lược” mà các nhà kinh doanh cà phê Tây Nguyên dành cho ông. Quả thật, có ở trong lĩnh vực kinh doanh cà phê, biết được những khó khăn của nghề này, khi giá cả “nhảy múa” hàng ngày; khi những biến động về thời tiết của đất trời tận châu Phi, châu Mỹ, những biến động về thời tiết chính trị ở Đức, ở Anh… thậm chí là “thời tiết” bóng đá cũng ảnh hưởng tới giá cả cà phê, thì mới hiểu hết cái tài “điều binh, khiển tướng” của ông  trên “chiến trường” này. Và vì vậy, ông thực sự xứng đáng với tín danh “Người chỉ huy thao lược” trên thương trường cà phê, xứng đáng với tấm Huân chương Lao động hạng Nhì và nhiều danh hiệu cao quý khác mà Nhà nước, các bộ, ngành đã tặng cho ông.
                                                                      
                                                                             BMT 10.12.2012

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - LÁ THƯ VĂN NGHỆ


                                CHIM HÓT CHÀO XUÂN

       Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng nói: “Một năm khởi đầu bằng mùa Xuân. Cuộc đời khởi đầu bằng tuổi trẻ”.
       Với thiên nhiên, mùa Xuân là mùa cây cối đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa khoe sắc, sức sống trào dâng. Với con người, mùa Xuân là mùa  tượng trưng cho tuổi trẻ, sức trẻ; là thời điểm cho ta hy vọng về một năm mới an lành, trăm sự hanh thông; riêng với người làm văn học, nghệ thuật thì mùa Xuân còn là mùa cho những trái tim nghệ sĩ rung động, cảm xúc thăng hoa, những sáng tạo đâm chồi nẩy lộc, đưa đến cho người đọc, người xem những màu sắc, hương vị mới, lạ của tâm hồn, để con người biết thương, biết giận, biết buồn, biết vui “đẹp” hơn, theo cách nói của một nhà thơ là “Nước mắt hay nụ cười đều đẫm chất nhân văn”.
      Nhâm Thìn qua, đất nước còn biết bao khó khăn, phức tạp: Giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tiếp tục tăng cao, trong khi một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh nhà lại hạ giá; cuộc sống người lao động hết sức chật vật; vấn đề trị an còn nhiều lo lắng, băn khoăn; nhiều tiêu cực trong xã hội chưa được đẩy lùi… Dẫu vậy, bước sang Xuân mới Quý Tỵ lòng ta vẫn tràn ngập niềm tin: Cuộc sống sẽ đổi mới, sẽ tốt đẹp hơn! Bởi chúng ta có cả hệ thống chính trị đang đồng sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4, những trì trệ, tiêu cực sẽ từng bước được đẩy lùi; việc thực hiện ba đột phá chiến lược của Chính phủ, gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng… sẽ tạo ra những tiền đề thuận lợi để đất nước vượt qua khó khăn, phát triển vững chắc.
       Bước sang Xuân mới, Chư Yang Sin tin tưởng các văn nghệ sĩ của tỉnh nhà sẽ có nhiều cảm hứng mới, cho ra đời nhiều tác phẩm hay, “Chim hót chào Xuân, thơ khởi sắc/ Hoa cười đón Tết nhạc dâng hương”, để góp phần cổ vũ, động viên đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng trên địa bàn.

                                                                               CHƯ YANG SIN   

GIỚI THIỆU TẠP CHÍ VĂN NGHỆ CHƯYANGSIN SỐ 245&246



Bìa CHƯ YANG SIN SỐ XUÂNQUÝ TỴ - 2013

Tạp chí Văn Nghệ CHƯ YANG SIN
Xuất bản hàng tháng

Số: 245&246

Tháng 1&2 năm 2013

 Tòa soạn:                    

172 Điện Biên Phủ - TP.Buôn Ma Thuột - Đắk Lắk
ĐT :  0500.3840 276
Email: cuyangsindaklak@gmail.com
                                              
Quyền Tổng biên tập:
LÊ KHÔI NGUYÊN

Phó Tổng biên tập thường trực:
 HỒNG CHIẾN

Phó Tổng biên tập:
 ĐẶNG BÁ TIẾN

Ban biên tập:
NGUYỄN VĂN THIỆN
PHẠM HUỲNH
TRƯƠNG BI
HUỲNH NGỌC LA SƠN

Trình bày:

Y KUAN NY NIÊ

AN QUỐC BÌNH

Thiết kế mỹ thuật:
AN QUỐC BÌNH

Sửa bản in:
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT


Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

GIAN NAN ĐƯỜNG ĐẾN CÁI CHỮ

(Tiếp theo)
Ghi chép của  HỒNG CHIẾN
III/ ĐÔI ĐIỀU TRĂN TRỞ: 
Tận mắt nhìn thấy cảnh các em ngồi học trong những chiếc lều đơn sơ, gió lùa như vào nhà trống, trên đình màn đôi chỗ các em căng thêm tấm ni lông chống dột, lòng cảm thương vô cùng. Qua trao đổi với một số em đang theo học nội trú dân nuôi ở đây, các em đều có một ao ước chung là học cho biết chữ để sau này có việc làm, khỏi khổ như bố mẹ. Có lẽ gia đình các em, những hộ nông dân nghèo thuộc các dân tộc ít người phía Bắc di cư tự do vào đây tìm kế sinh nhai, gia đình nào cũng đông con cái, nhiều em là con thứ bảy, thứ tám trong những gia đình chín, mười người con. Tuy con cái đông là vậy các ông bố bà mẹ ít học ấy vẫn mong muốn con cái mình dù cực nhọc đến mấy cũng phải học đến nơi đến chốn và hy vọng ngày mai con cái sẽ thoát nghèo. Chính vì hy vọng vào một tương lai tốt đẹp như thế nên họ chắt chiu từng đồng, từng hạt gạo, củ khoai để hàng tuần, hàng tháng băng rừng lội suối vượt cả mấy chục km cõng gạo ra trường cho con ăn học. Người dân đã biết quý cái chữ, kính trọng thầy cô giáo đó là dấu hiệu của một xã hội văn minh và đó cũng là truyền thống hiếu học từ xa xưa của người dân nước Việt, không phân biệt đó là dân tộc nào. Trong điều kiện trăm bề thiếu thốn  như thế, các em học sinh dù lớn hay bé vẫn miệt mài học tập, thấy  đáng quý biết chừng nào.
Chia tay với các thầy cô giáo và học sinh trường THCS Phan Bội Châu, lòng tôi trĩu nặng những băn khoăn trăn trở, xen lẫn lo âu. Nếu khu nội trú của trường không được khắc phục, bệnh tật sẽ hoành hành như cận thị, vẹo cột sống, sốt rét… đẩy một lớp người mới của chúng ta vì ham mê học sẽ ra sao? Làm cách gì để khuyến khích không những các em mà cả gia đình những người nông dân nghèo thuộc đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp phải từ biệt quê hương bản quán, nơi chôn rau, cắt rốn đi tìm miếng cơm manh áo nơi “đất khách quê người” mà vẫn còng lưng chịu khổ, chịu cực cho con em mình theo học cái chữ của Đảng, của Bác với mong muốn đổi đời. Điều đó chứng tỏ người dân đâu chỉ vì cơm áo gạo tiền của cuộc sống đời thường, mà cái cao hơn, cái cần thiết hơn đối với những hộ nông dân này là tri thức cho thế hệ con cháu mai sau. Để các em học sinh phải ăn ở trong điều kiện như hiện nay ở trường THCS Phan Bội Châu theo mô hình trường nội trú dân nuôi là lỗi của chúng ta - những được Đảng và nhân dân tin tưởng giao cho trọng trách quản lý. Đây mới chỉ là một trường được quan tâm đầu tư của ngành, chính quyền các cấp mà còn như vậy, không biết các trường khác, với mô hình này trong huyện cũng như nơi khác sẽ như thế nào? Mong sao qua trang viết nhỏ này giúp các cấp, các ngành có liên quan thấy được thực tế đang tồn tại ở trường nội trú dân nuôi mà tìm biện pháp khắc phục ngay, không để tình trạng này kéo dài.
(Hết)

GIAN NAN ĐƯỜNG ĐẾN CÁI CHỮ

(Tiếp theo)

Ghi chép của HỒNG CHIẾN

II/ THỰC TRẠNG Ở MỘT TRƯỜNG NỘI TRÚ DÂN NUÔI:
Để xem thử khó khăn đó như thế nào, tôi đề nghị thầy Lê Cảnh Truật đưa đến Trường nội trú dân nuôi đông học sinh nhất. Thầy vui vẻ nhận lời. Mặc dù trời mưa tầm tã, hai chúng tôi vẫn quyết định đi xe máy và xác định sẽ… ướt! Đường về Trường THCS Phan Bội Châu thuộc xã Ea Trang, dễ đi vì đó là đường quốc lộ 26A, con đường huyết mạch nối khu vực Tây Nguyên với thành phố Nha Trang. Sau quãng đường hơn 20km uốn lượn qua các đèo dốc quanh co, xe dừng lại trước căn nhà cấp bốn, nước vôi còn mới, nền xi măng, mái lợp tôn lạnh. Thấy chúng tôi vào, các cửa nhà đều bật mở, các em học sinh trong bảy phòng ở ùa ra  nhìn chúng tôi. Trong các phòng ở, mỗi phòng xếp bốn giường tầng. Hai bên đầu hồi nhà và toàn bộ phía sau khu nhà còn ba dãy lều lụp xụp, chạy dài, mái lợp nham nhở đoạn bằng cỏ gianh, đoạn bằng vải bạt, đoạn bằng tôn, có đoạn chỉ là những tấm nilông che phủ nhưng tất cả giống nhau ở độ cao không quá 1,5m, xung quang trống thiên, xoong nồi bày la liệt, chiếc nào chiếc ấy chỉ to bằng cái tô canh. Như đoán được sự ngạc nhiên của tôi, thầy Lê Cảnh Truật bùi ngùi nói: Đây là phòng ở mới được xây từ ngân sách  địa phương hỗ trợ một phần cho các em đang theo học tại Trường nội trú dân nuôi. Còn các túp lều dựng xung quanh đây là bếp mà cha, mẹ các em tự làm cho con mình có chỗ nấu ăn. Tất cả còn tạm bợ lắm. Nhưng đây là những em có may mắn, chứ nhiều em còn phải ở trong những chiếc chòi làm tạm chỉ che nắng chứ không che được mưa. Ta về trường chính sẽ thấy.
Hai chúng tôi đi theo quốc lộ 26A một đoạn nữa rồi rẽ vào con đường bê tông mới đổ, hai trụ cổng xây còn dang dở, chắc do mưa nhiều, không làm được. Hết dốc, sân trường hiện ra trong sự mượt mà của tán phượng, tán bàng cao chót vót; ngôi trường hai tầng màu sơn hồng hồng còn tươi nguyên, hai dãy nhà xây cấp bốn bên cạnh tạo thành hình chữ U bao lấy chiếc sân không được rộng lắm. Thế là tôi lại trở lại đúng ngôi trường Dân tộc nội trú xã Ea Trang. Sau 28 năm đi xa, mọi sự thay đổi đến ngỡ ngàng. Qua màn mưa  dày đặc, tôi vẫn thấy dãy núi phía tây, cây keo tai tượng đã mọc cao vút. Năm 1979, khi tôi về đây dựng trường, buổi sáng thỉnh thoảng từng đôi mang rủ nhau ra nô đùa trên các triền núi làm tro bụi bay mù mịt; chiều về, từng đàn nai năm, sáu con nghênh ngang lang thang trên triền đồi đã bị đốt cháy trụi, trơ mặt đất đầy tro than đen sì; bọn chúng ăn tro và điềm nhiên nhìn xuống, không sợ sệt gì.
Đón chúng tôi ngay chân cầu thang đưa lên phòng làm việc là một thanh niên còn trẻ, cao, hơi gầy, tuổi độ ngoài ba chục. Qua giới thiệu của thầy Phó phòng tôi biết đó là thầy Nguyễn Mạnh Điệp, Hiệu trưởng nhà trường. Chúng tôi được mời lên phòng Hiệu trưởng; đó là một phòng học được ngăn đôi, ngoài bộ bàn ghế tiếp khách, dàn vi tính và bàn làm việc, chỉ có một cái tủ hồ sơ. Theo báo cáo của Hiệu trưởng, năm học 2007-2008 trường THCS Phan Bội Châu có 10 lớp với 412 em học sinh theo học, gồm bảy dân tộc khác nhau và không có em học sinh người Kinh nào. Trong số học sinh đang theo học tại trường có 152 học sinh là con em đồng bào các dân tộc ít người phía Bắc di dân tự do vào làm ăn sinh sống ở trong rừng sâu cách trường trên 20 km, cá biệt có em ở xa trường gần 60 km. Cha mẹ các em mong muốn con em mình được học chữ để sau này sống có ích cho xã hội nên 3 năm học gần đây đã mang con ra xin nhà trường cho được làm nhà ở lại trường; cuối tuần các em về nhà lấy lương thực, thực phẩm, đầu tuần ra học; có em ở xa quá thì hàng tuần cha mẹ mang ra cho. Nhìn các em sinh hoạt hàng ngày hai bữa ăn chỉ có cơm với bột canh, nước mắm; ít khi có được con cá khô; thương lắm nhưng không biết làm sao giúp được.
- Nơi ở của các em được bố trí như thế nào?
- Cực lắm anh ạ! - Thầy Hiệu trưởng giọng bùi ngùi trả lời tôi mà như có gì đó làm giọng nghèn nghẹn - Hiện nay trường mới có được bảy phòng ở cho các em, cố lắm chỉ thu xếp có chỗ ở cho 70 em, số còn lại phải tự túc nơi ở. Nói chính xác hơn là bố mẹ các em phải tự vào rừng chặt cây về dựng cho con em mình một túp lều bằng tất cả những thứ gì có thể kiếm được. Nhà khá giả thì mua vài tấm tôn, nhà nghèo thì cắt tranh hoặc mua vài mét ni lông căng lên che mưa nắng để các em ăn ngủ qua ngày, tội lắm!
- Quản lý các em ở lại trường như thế này bằng cách nào?
- Ban ngày giao cho giáo viên chủ nhiệm, ban đêm các thầy cô phân công nhau trực đôn đốc, quản lý học sinh. Toàn trường có 15 giáo viên, kể cả Ban Giám hiệu, phải chia  nhau ra mà trực, nhiều hôm nửa đêm có học sinh đau, ba bốn thầy cô lại phải thức trắng đưa các em về bệnh viện huyện cấp cứu cách xa hơn 20km, toàn đường đèo dốc như anh thấy đó. Cực lắm.
-Chế độ cho các thầy cô giảng dạy ở đây như thế  này được thực  hiện như thế nào?
- Chưa có chế độ gì cả - Thầy Lê Cảnh Truật trả lời - Hai năm học trước chưa có công văn hướng dẫn nên ngành không có kinh phí gì để hỗ trợ thêm cho các thầy cô làm công tác quản lý học sinh ở nội trú như thế này. Tất cả các giáo viên công tác tại các trường có học sinh nội trú dân nuôi tham gia quản lý học sinh được xem như đó là trách nhiệm, nghĩa vụ chứ không có phụ cấp như các trường nội trú chuyên biệt. Đây là một sự bất cập mà Phòng đã đề nghị nhưng đến năm nay UBND tỉnh mới ban hành quyết định 25 cho phép giáo viên quản lý học sinh nội trú dân nuôi được giảm ½ số tiết phải đảm nhiệm hàng tuần. Tuy muộn nhưng nó cũng kịp thời động viên anh chị em giáo viên đang công tác ở những vùng đặc biệt khó khăn như thế này. Hiện nay trường còn thiếu giáo viên, nhiều thầy cô phải đảm nhận gần ba chục tiết trên tuần, riêng dạy và soạn giáo án đã không còn thời gian nghỉ, chưa kể đêm đêm phải xuống với học sinh, chỉ bảo thêm cho các em. Hơn 150 em ở nội trú mà chưa có nhân viên y tế chăm sóc sức khoẻ cho các em, tất cả đều đè nặng lên vai người thầy giáo. Biết là thiệt cho các thầy cô lắm nhưng điều kiện như vậy thì làm sao được.
Quả thật, tôi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, theo Luật Lao động thì các cán bộ quản lý ở đây làm sai, chưa đúng với quy định; nhưng về tình thì phải chấp nhận, tất cả vì học sinh thân yêu mà! Làm nghề giáo, dạy vùng sâu, vùng xa như thế này đúng là “thiệt đơn thiệt kép”. Điều kiện sinh hoạt khó khăn, công việc gánh vác lại nặng nề hơn mà không có thù lao gì. Chỉ riêng so với các đồng nghiệp dạy trường nội trú chuyên biệt, được ở ngay tại trung tâm huyện, sinh hoạt đầy đủ tiện nghi, phụ cấp  về quản lý học sinh mỗi tháng được nhận thêm 70% lương. Còn các thầy cô ở trường THCS Phan Bội Châu này, trước núi, sau núi, chỉ có một con đường chạy ngang qua, muốn mua sắm, hay kiếm đồ ăn tươi lại phải về trên thị trấn huyện cách xa hơn 20km. Ngôi trường nằm cheo leo trên đỉnh đồi, hai dòng khe nhỏ chảy hai bên sườn đồi vô tình tạo thành hai con hào tự nhiên tách biệt với dân. Đau ốm, bệnh tật không may mắc phải là nỗi cực cho người khoẻ. Thế nhưng tất cả các thầy cô cũng như cán bộ quản lý ở đây chịu khổ mãi thành “quen” nên nhìn ai cũng tươi vui, phấn khởi. Có lẽ sự ham học của các em học sinh làø liều thuốc tinh thần tốt nhất giúp các thầy cô chấp nhận với cuộc sống nơi đây.
Tôi đề nghị thầy Hiệu trưởng dẫn đi thăm khu nội trú của học sinh. Trời vẫn lất phất mưa, chúng tôi phải bước vội qua phía dãy nhà cấp bốn cho khỏi ướt. Trong phòng đầu tiên, có hai chiếc giường một kê ở hai góc, còn lại trên nền nhà trải 8 chiếc chiếu một liền nhau, phía giáp bờ tường, trên mỗi chiếc chiếu đều có một chiếc chăn đơn và một cái màn được gấp rất khéo. Hai em học sinh nữ mặc trang phục người H’ Mông, lưng dựa vào tường, kê sách lên đùi mải mê viết, không biết chúng tôi đến. Nhìn những cô bé ham mê học tập trong hoàn cảnh khó khăn như thế này lòng tôi cảm thấy như có lỗi với các em.
Như đoán được suy nghĩ của tôi, thầy Nguyễn Mạnh Điệp giải thích thêm: Để các em có được chỗ ăn ngủ thế này cũng quý lắm rồi. Nhà trường phải tính toán chi li, các thầy cô phải chấp nhận sinh hoạt chật chội để dành cho các em. Chúng tôi biết các em chỉ có một chiếc chiếu trải trên nền xi măng như thế này chắc chắn là lạnh lắm. Biết làm sao được. Nhưng so với các em ở ngoài kia thì…
Thầy Hiệu trưởng nghẹn lời, không nói tiếp được. Tôi chợt nghĩ: ngoài mấy tiếng ngồi trên lớp học, thời gian còn lại, các em phải nằm hoặc ngồi trên nền xi măng lạnh giá như thế này để học, để viết, để ngủ ư? Sức của các cô bé, cậu bé tuổi thiếu nhi làm sao có thể trụ nổi suốt chín tháng theo học? Ở ngoài kia người ta đang hô hào hướng dẫn học sinh ngồi bàn đúng tiêu chuẩn, ngồi đúng tư thế để chống các loại bệnh tật. Còn ở đây…!
Tôi đi theo thầy Hiệu trưởng ra phía sau dãy nhà, bất chợt hiện ra trước mắt tôi ba dãy lều dựng sát nhau, cái lợp bằng tôn, cái lợp bằng cỏ gianh, cái được phủ bằng cả tấm bạt lớn… che xung quanh cũng chẳng cái nào giống cái nào, cái được che bằng những thanh nứa đập dập, cái được kéo bằng vải bạt từ nóc xuống tận đất, cái được che bằng cỏ gianh. Bên trong những túp lều cao không quá mét rưỡi, rộng khoảng ba mét được lát tre đập dập, gác lên trên hai cây gỗ tròn dùng vừa làm giường, vừa làm bàn học cho các em. Xung quanh các chòi ấy là những vũng sình lầy, nước đọng. Một số em học sinh thấy tôi lom khom đi vào, đang ngồi học bài, vội nhảy xuồng đất cất tiếng chào.
Mang tâm trạng không vui khi phải chứng kiến cảnh học sinh ăn ở trong những túp lều tạm bợ, ngồi học không bàn, không ghế tới trao đổi với Đảng uỷ và Uỷ ban nhân dân xã Ea Trang, ông Y Bhiêm - Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ xã - cho biết thêm: Xã cũng biết các em ăn ở cực lắm, đã đề nghị lên cấp trên nhiều rồi. Như anh thấy đấy, đây là xã nghèo của huyện, dân cư ở rãi rác khắp nơi, có thôn muốn xuống thăm phải đi ra thị trấn huyện, qua 4 xã bạn mới đến được. Điều kiện chung khó khăn lắm, chỉ biết trông chờ cấp trên thôi!
Tôi hỏi thêm thầy Lê Cảnh Truật: Chẳng lẽ lãnh đạo phòng Giáo dục đành bó tay chấp nhận để học sinh ăn học mãi như thế này ư? Phải tìm ra biện pháp gì chứ.
-Ngành cũng đã đề xuất với lãnh đạo cấp trên hai phương án: Một là cấp trên hỗ trợ kinh phí xây dựng đủ phòng ở cho học sinh, trong các phòng ở ấy trang bị thêm cho các em có phương tiện sinh hoạt tối thiểu; hai là cho thành lập thêm một số trường THCS ghép với tiểu học, để các em có thể học lớp sáu, lớp bảy gần nhà, thu hút thêm học sinh; thời gian sau đủ học sinh, ta tách trưòng THCS ra riêng. Nếu thực hiện phương án hai sẽ khắc phục cơ bản tình hình học sinh phải ở lại nội trú dân nuôi như hiện nay, nhưng khó khăn là phải tăng biên chế giáo viên, đặc biệt là giáo viên THCS cho các trường, đây là điều mà chính quyền địa phương cấp huyện không thể tự quyết được.
(Còn nữa)

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

GIAN NAN ĐƯỜNG ĐẾN CÁI CHỮ




Ghi chép của HỒNG CHIẾN

Đã lâu không có dịp về thăm huyện M’Đrak, phần vì bận công việc, phần vì đường sá xa xôi nên nhiều lúc cũng ngại. Quay đi quay lại đã đến ngày kỷ niệm ba mươi năm đặt chân vào Dak Lak của đoàn giáo sinh tỉnh Thanh Hoá (11 tháng 10 năm 1977 - 11 tháng 10 năm 2007); tôi quyết định “hành hương” về lại miền đất mà lần đầu tiên tôi đến nhận công tác trên quê hương thứ hai - Tây Nguyên. Rời thành phố Buôn Ma Thuột, trời lất phất mưa. Mùa mưa Tây Nguyên là vậy, phải chấp nhận thôi. Sau quãng đường tròn 90 km xuôi theo quốc lộ 26A, hướng về thành phố Nha Trang, tôi đến trung tâm huyện M’Đrak. Phòng Giáo dục huyện toạ lạc trong ngôi nhà hai tầng khá bề thế, có khuôn viên rộng rãi thoáng mát. Đón tôi tại phòng làm việc lại là người đồng nghiệp cũ cùng vào đợt 1977, thầy giáo Lê Cảnh Truật, Phó trưởng Phòng Giáo dục kiêm Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục huyện. Những kỷ niệm ba mươi năm trước ùa về...

I/ M’ĐRAK MỘT THỜI NHƯ THẾ:
… Ngày ấy đoàn giáo sinh Thanh Hoá được phân công về huyện M’Drak gồm mười chín người, trong đó riêng huyện Nông Cống đã có tới mười người, tám nam, hai nữ; huyện Hoằng Hoá quê hương của ngài trạng Quỳnh có ba người; huyện  Nga Sơn bốn người, huyện Quảng Xương hai người. Đến đón chúng tôi tại trường Trung học sư phạm (hồi đó còn ở cạnh sân bay Hoà Bình), ông Lê Văn Phú, Trưởng ban Giáo dục huyện bắt tay từng người đưa lên chiếc xe khách thuê của Hợp tác xã vận tải M’Đrak lên đón. Cả đoàn giáo sinh được đưa về trường cấp I-II Krông Zin ở tạm. Đây nguyên là trường Tiểu học thời Nguỵ nên cơ sở vật chất còn tàm tạm; Ban Giáo dục huyện cũng lấy hai phòng làm nơi ăn ở và làm việc. Những ngày đầu đến nhận công tác tất cả anh em giáo viên đều ở chung, cùng ăn với cán bộ Ban Giáo dục. Ngày ngày các thầy cô giáo lếch thếch cuốc bộ đến các buôn dân tộc người Êđê vận động con em đến tuổi ra lớp học đặt ngay tại buôn. Nhiều buôn cách xa nơi ở sáu, bảy km nhưng ai cũng vui vì cuộc sống tập thể và vì con nhà nông lần đầu tiên được làm Thầy, làm Cô… Thời ấy chưa ai có xe đạp, nhưng hàng tháng, hàng quý vẫn được phân phối phụ tùng xe đạp (tiêu chuẩn mà!). Cánh thanh niên không màng tới vì không biết lấy cái xăm, cái lốp hay cái xích, cái đèn xe đạp để làm gì. Qua năm 1978, tình hình căng hơn do bọn Fulrô hoạt động mạnh, các trường được thành lập thêm nên các thầy cô Giáo cũng phải chia tay nhau xuống các buôn lập lớp dạy học. Tôi vẫn ở lại trường cũ giảng dạy, mặc dù phải đi bộ đến lớp cách xa nơi ở gần 5 km.
Cuộc sống cứ bình lặng trôi đi, cái đói lúc đó là căn bệnh thường niên nhưng từ nhỏ cho đến khi làm thầy giáo, bọn chúng tôi hầu như chưa bao giờ được bữa no thì đói có là gì. Chỉ tội nghiệp hai cô bạn đồng hương cùng huyện ngày ngày theo chúng tôi đi dạy đến trưa về măït cứ tái mét vì đói; các cô không dám ăn vặt những thứ mà người dân trong buôn mang cho như cánh đàn ông. Khó khăn gian khổ là vậy nhưng chúng tôi vẫn rất vui vẻ bên nhau và đặc biệt cán bộ huyện, Ban giáo dục và Nhà trường sống với nhau như trong một gia đình, ấm cúng, vui vẻ.
Cuộc sống bỗng nhiên bị xáo trộn một cách đầy bất ngờ. Vào một đêm cuối tháng ba, khoảng hơn 21 giờ, chúng tôi đang quây quần soạn bài, bỗng giật mình bởi tiếng nổ chát chúa của đạn M72, rồi sau đó là tiếng M79, AR16 nổ như ngô rang, buôn Dak cách trung tâm thị trấn M’Đrak khoảng 3km bốc cháy sáng cả góc trời. Tiếng đạn cối của Công an, Huyện đội nã dồn dập nổ như pháo tết về phía sân bay chặn đường rút của bọn Fulrô. Chúng tôi chạy ra  hè nhà đứng nhìn về phía lửa cháy mà lòng đau xót, lo lắng vô cùng; vì nơi đó  chính là Trường nội trú huyện mới được thành lập, học sinh còn gửi ở tạm nhà dân, các thầy cô có hai căn nhà gianh vách che bằng những tấm ghi lát sân bay, vừa làm nơi ăn chốn ở, vừa là nhà ăn cho các em học sinh. Khoảng gần một tiếng sau, tiếng đạn nổ chỉ còn cầm chừng, chúng tôi chợt thấy ba bóng người lảo đảo chạy vào sân trường. Cả bọn ùa ra hét ầm lên khi nhận ra hai thầy và một cô giáo, không guốc dép, bàn chân tóe máu, quần áo bị rách lỗ chỗ, vừa chạy thoát từ  Trường nội trú về. Cả Ban Giáo dục và cánh giáo viên ở tập thể ôm chầm lấy các thầy cô, mắt ai cũng rưng rưng. Trong cái rủi có cái may, toàn bộ buôn Dak bị thiêu ruiï, 21 em học sinh bị thương, nhà Hiệu trưởng, Hiệu phó đều trúng đạn bốc cháy, tài sản mất sạch; nhưng không ai chết cả. Đau xót nhất khi chứng kiến cảnh một anh Công an huyện và một Trung uý quân đội bị bọn Fulrô bắn nát người một cách dã man ngay trước cổng trường; nếu không có hai người ấy thì tính mạng của hơn hai trăm thầy và trò sẽ ra sao!
Sau trận đó, học sinh nhiều em bỏ chạy về buôn, không dám đến học nữa. Các thầy cô, các ban ngành trong huyện lại phải đến từng nhà vận động các em đi học, tìm mọi cách có thể để đưa các em về trường. Thời ấy có một vị lãnh đạo Ty Giáo dục Dak Lak từng nhấn mạnh: lấy số lượng làm chất lượng. Chúng ta đưa được các em về trường là thắng lợi. Ngày ấy người dân còn cực khổ lắm, bữa đói bữa no; nhiều gia đình còn phải ăn khoai mài đào trong rừng thay cơm. Các em đến trường học được cấp quần áo, chăn màn, giày dép, sách vở và ngày ba bữa ăn dù cơm còn phải độn thêm bắp, khoai nhưng không bao giờ bị đói; vậy mà vận động các em đến trường cũng vô cùng cực nhọc.
Đầu tháng 7 năm 1979 UBND huyện M’Đrak có chủ trương thành lập Trường nội trú tại các xã, vì thế tôi được cử về xã Ea Trang, xã cuối cùng của huyện, giáp với tỉnh Phú Khánh, để chỉ đạo xây dựng trường kịp khai giảng năm học mới. Cả xã Ea Trang lúc bấy giờ chỉ có một hộ gia đình người Kinh làm nghề thầy cúng với bốn khẩu, còn lại là người dân tộc Êđê. Đi suốt chiều dài của xã theo quốc lộ 21 (sau này  đổi tên quốc lộ 26A) hơn 30 km không tìm đâu được đám đất bằng khoảng một hecta để dựng trường; cuối cùng phải chọn đỉnh một ngọn đồi ngay tại thôn Hai, đối diện với Trạm Kiểm soát Phượng Hoàng của Công an huyện, bên cạnh quốc lộ 21 để dựng trường. Tôi cùng với anh Chế Đình Đống - Trung úy quân đội người Nghệ Tĩnh tăng cường về làm Bí thư xã - vận động nhân dân đốn cột, cắt gianh, dựng được 8 phòng học, nhà kho, nhà ăn, nhà ở cho học sinh. Tuy nhà gianh vách nứa nhưng cao ráo, thoáng mát không thua kém bất kỳ ngôi nhà nào ở quê nghèo xứ Thanh tôi. Ngày khai trường, Ông Y Din - Chủ tịch huyện và ông Trưởng Ban Giáo dục Lê Văn Phú, cứ tấm tắc khen mãi. Có lẽ tôi “mát tay” làm phong trào nên bàn giao công trình xong, các ông lại điều tôi về Trường nội trú xã Krông Zin, một trường còn xây dựng dang dở mà vẫn phải khai giảng…
Có lẽ tại cái số xây dựng xong cơ sở vật chất, tôi được ở lại trường phụ trách lao động. Thời ấy tiêu chuẩn học sinh nội trú tương đối cao, mỗi em hàng tháng được cấp 15 kg lương thực, quần áo, chăn màn và tiền tiêu vặt, nhưng nhiều em vẫn bỏ học không chịu đến trường. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, lương thực rất khan hiếm, nhiều nơi phải cấp lương thực bằng đậu xanh, hạt mạch thay thế. Vì vậy huyện tổ chức khai hoang trồng khoai mỳ, học sinh nội trú cũng được điều động đi khai hoang. Trường nội trú Krông Zin được phân công cuốc đất trên một quả đồi phía sau trạm kiểm soát Khánh Dương. Buổi sáng hôm ấy, tôi cùng các em học sinh mải mê cuốc đất đến gần trưa, em Y Đoan lại bên tôi nói: Thầy nghỉ lại uống nước, để em làm cho! Tôi đưa cuốc cho Y Đoan và đi lại bên đường quốc lộ 21 để uống nước. Đi chưa được năm chục mét, bỗng tôi nghe một tiếng nổ lớn, giật mình quay lại; ngay chỗ tôi đứng cuốc lúc nãy, một cột khói đen bốc lên, bảy em học sinh đang quằn quại trên mặt đất. Tôi lao lại chỗ Y Đoan, em nằm bất tỉnh; mặt xạm đen vì khói thuốc; bụng, tay máu phun ra thành dòng. Cô Nguyễn Thị Hồng chạy lại cởi khăn đưa cho tôi buộc lại vết thương cho Y Đoan. Các thầy cô và nhân viên y tế của trường xúm lại băng bó cho các em bị thương. Có em hoảng quá vừa chạy vừa khóc, máu chảy thành dòng trên mặt đất. Các  thầy phải chạy theo giữ lại để băng bó. Khi xe đưa các em lên viện cấp cứu rồi, tôi lại chỗ Y Đoan nằm thấy lưỡi cuốc con gà Trung Quốc bị xé nát, mặt đất bị khoét một lỗ lớn như chíêc mẹt. Vô tình tôi đã để Y Đoan gánh thay trọn vẹn một quả mìn. Cũng may, nhờ cấp cứu kịp thời tất cả các em chỉ bị thương, không ai chết cả. Riêng Y Đoan nhờ lưỡi cuốc chắn mãnh đạn nên chỉ bị thương nặng. Vậy là để những người học trò bé nhỏ ở huyện M’Đrak đến được với cái chữ, không những thầy cô giáo mà cả học sinh đã phải đánh đổi bằng chính xương máu của mình.
Vì công việc của tổ chức giao, tháng 8 năm 1983, tôi đi học rồi chuyển công tác, chuyển ngành về trên thành phố Buôn Ma Thuột, không còn làm nghề dạy học  nữa, nhưng những kỷ niệm đẹp về mảnh đất này còn in đậm trong tôi.
Sau ba mươi năm trở lại, 19 giáo sinh đoàn Thanh Hoá vào huyện M’đrăk năm ấy giờ đây còn lại không nhiều. Người về cõi vĩnh hằng khi tuổi xuân chưa tròn 30 như Đỗ Văn Loan nguyên Phó hiệu trưởng trường PTTH Việt Xô. Người bị vật chất cám dỗ, rơi vào vòng lao tù. Người vì yêu cầu của tổ chức phải chuyển công tác về các địa phương khác. Giờ đây số còn lại chỉ có 6 người. Trong sáu người ấy, người đã và đang là Phó chủ tịch Huyện như Vũ Hữu Nhân và Lê Đình Điền; người làm Hiệu trưởng các trường trọng điểm của Huyện như Lê Ngọc Khu, Nguyễn Văn Tuấn; người tiếp tục giữ các trọng khác của ngành giáo dục như Lê Cảnh Truật, Nguyễn Văn Tường…. Dù trên cương vị công tác nào những người giáo sinh năm ấy vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, xứng danh người con xứ Thanh.
Lần này về huyện bên cạnh việc thăm lại vùng đất khi xưa từng công tác, giúp tôi trưởng thành, tôi còn có nhiệm vụ Tổng biên tập giao cho là tìm hiểu và viết về mô hình Trường Nội trú dân nuôi mà huyện M’Đrak hiện nay đang thực hiện. Khi biết ý định của tôi, thầy Lê Cảnh Truật vui vẻ nói: Vì điều kiện thực tế, hai năm học vừa qua ngành Giáo dục huyện đang thực hiện mô hình Trường nội trú dân nuôi. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Dak Lak, mỗi huyện có một trường nội trú dành riêng cho con em các dân tộc ít người theo học. Tuy nhiên do biên chế, trường chỉ tiếp nhận một lượng học sinh nhất định, vì thế còn một số học sinh đang học tại trường THCS nhà ở xa trường, không thể hàng ngày đi học và về nhà nên huyện cũng như ngành đồng ý với chủ trương xây dựng mô hình Trường nội trú dân nuôi. Hiểu một cách nôm na là học sinh đến ăn ở tại trường, cuối tuần hay cuối tháng các em mới tranh thủ về nhà lấy lương thực, hôm sau lại lên học. Việc ăn ở của các em do gia đình lo liệu hoàn toàn. Hiện nay huyện M’Đrak đang có ba trường thực hiện mô hình này.
- Nếu người dân chấp nhận như vậy thì quý hoá quá còn gì. Ngày trước ta đi nói rát  cổ bỏng họng, vận động cha mẹ các em cho con đi học, được ăn ở đàng hoàng mà ta lên cầu thang trước các em trốn xuống cầu thang sau, bắt học trò đi học như  Nguỵ bắt quân dịch.
- Nhưng thực hiện mô hình này cũng đang là vấn đề gian nan lắm! Thầy Lê Cảnh Truật nói thêm.
(Còn nữa)

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

NHỮNG NGƯỜI LÍNH HÔM QUA






Ký của HỒNG CHIẾN
         
Hơn hai chục năm đã trôi qua, nay tôi mới có dịp quay lại làm việc với Xí nghiệp liên hợp 333. Thời gian trôi nhanh thật, tháng 7 năm 1985, tôi được mời về làm tập sách chuẩn bị kỷ niệm 10 năm ngày thành lập sư đoàn 333. Khi ấy Sư đoàn bộ đóng tại buôn Ea Knôp, huyện Ea Kar, tỉnh Dak Lak, cách thị xã Buôn Ma Thuột 64 km về phía đông; quân của đơn vị đóng trên địa bàn hai tỉnh Dak Lak và Phú Khánh; nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị lúc bấy giờ vừa làm kinh tế, vừa truy quét  Purol, đảm bảo an ninh cho khu vực. Cuối năm 1985, tình hình an ninh ổn định, Sư đoàn được chuyển giao cho Bộ Nông Nghiệp làm kinh tế và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hợp 333. Sau này, do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, một bộ phận được tách ra thành lập Tổng công ty mía đường 333 sử dụng một phần cơ sở vật chất của Xí nghiệp Liên hợp 333 bàn giao lại.
Từ quốc lộ 26A rẻ vào Công ty, đường đã được rải nhựa; hai bên đường cây bóng mát sum sê xanh tốt. Đứng ngoài cổng nhìn vào, hai dãy nhà hai tầng được làm từ thời mới thành lập Sư đoàn 333 vẫn còn nguyên đây. Ngôi nhà xây, nước sơn còn mới, chắc vừa được sửa chửa lại. Căn nhà hai tầng ở phía đông cổng làm bằng gỗ, năm tháng trôi qua chỉ làm mặt gỗ bóng lên, trông rất đẹp. Đối diện với nhà làm việc của Tổng công ty là khu nhà máy đường đồ sộ cao ngang tòa nhà năm tầng, ống khói chọc trời xanh, tọa lạc trên nền của xí nghiệp cơ khí cũ. Quang cảnh khác xưa nhiều quá, con người cũng vậy, công nhân phần lớn còn rất trẻ đang hối hả làm việc.
Theo ông Phan Xuân Thủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty cho biết: công suất nhà máy đường 333 là 800 tấn, diện tích đất chuyên canh theo quy hoạch 27.000 ha. Dự tính vụ sản xuất sắp tới sẽ cải tạo nâng cấp công suất nhà máy lên 1000 tấn. Qua trao đổi, tôi được biết thêm: trước đây nhà máy mía đường 333 cũng như nhiều nhà máy mía đường trong cả nước làm ăn đều không có lãi, một phần do tập quán canh tác còn lạc hậu, nhiều nông dân trồng mía nguyên liệu không đúng theo yêu cầu nhà máy đặt ra; một  phần do chính sách nhà nước ban hành chưa phù hợp với sự phát triển của các nhà máy lúc bấy giờ. Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách ưu tiên phát triển các nhà máy mía đường; những nhà máy hoạt động kém hiệu quả đã phải ngừng hoạt động, những nhà máy hoạt động có hiệu quả tiếp tục được khuyến khích đầu tư mở rông. Trong xu thế đó Nhà máy mía đường 333 được cấp trên phê duyệt cho mở rộng, nâng công suất và tăng diện tích vùng nguyên liệu. Nhà máy liên kết không những với các xã, các hộ gia đình mà còn kí kết với một số Trại cải tạo, Trại phục hồi nhân phẩm của cơ quan bạn để trồng mía nguyên liệu. Đây cũng là cách để giúp những con người lầm lỗi có điều kiện cải tạo, sớm trở về với cộng đồng. Riêng vùng quy hoạch trồng mía nguyên liệu, phần lớn đất đai ở huyện M’đrăk cũng như các xã Ea Tyh, Ea Păn, Cư Yang, Cư Pông… thuộc huyện Ea Kar toàn đất pha cát chỉ có cỏ gianh mọc; Trước đây, khi mùa mưa tới, một màu xanh trải dài đến hút tầm mắt; mùa khô về, tất cả chuyển dần sang màu vàng úa và chỉ vô tình một tàn lửa nhỏ rơi xuống, cơn hoả hoạn sẽ bao trùm tất cả. Trên vùng đất ấy, con người chỉ làm rẫy vào mùa mưa và tổ chức chăn nuôi. Nguyên Sư đoàn 333 trước đây cũng có xí nghiệp D22 chuyên chăn nuôi bò cung cấp thực phẩm cho toàn đơn vị. Vùng đất khô cằn này chỉ thực sự thức dậy khi có Nhà máy đường 333 đi vào hoạt động. Không ngờ đất cát pha lại hợp với cây mía đến thế. Nhà máy trực tiếp xuống các xã, vận động nhân dân trồng mía và kí kết đầu tư, bao tiêu sản phẩm. Vụ đầu còn ít người làm, vụ sau thấy trồng mía lời hơn bất kì loại cây trồng nào nên các hộ đua nhau trồng; trồng theo quy hoạch, trồng theo kí kết liên doanh đã đầu tư và trồng tự phát. Cái cổ hủ của người nông dân là chạy theo phong trào nên hệ quả tất yếu là nguyên liệu thừa, vì công suất nhà máy có hạn. Trước tình cảnh ấy nhà máy đường 333 phải chạy vượt cả công suất thiết kế để có thể khắc phục phần nào tình hình thừa nguyên liệu. Đúng ra những hộ trồng mía không kí kết với nhà máy thì nhà máy không có trách nhiệm bao tiêu sản phẩm cho họ. Nói là nói vậy nhưng những người công nhân từng khoác áo lính, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mong mang lại bình yên, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; giờ đây không thể vì nguyên tắc giấy tờ, mà để nhân dân phải thiệt thòi. Thế là nhà máy phải gồng mình lên để “gánh”.
Rời Tổng công ty, tôi đi thăm vùng mía nguyên liệu thuộc xã Ea Pil, huyện M’Đrăk; ông Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng giám đốc công ty đi cùng cho chúng tôi biết thêm: Ngày nay đa số các hộ kí kết hợp đồng với nhà máy, nhận đầu tư trồng mía đều có thu nhập ổn định. Các hộ nghèo so với trong vùng còn rất ít, đa phần đủ ăn và vươn lên làm giàu. Cuộc sống mới của những con người trên vùng đất phía đông tỉnh Dak Lak mà trước đây là những người lính Sư đoàn 333 và hôm nay có thêm con cháu họ, đã đủ ăn, đủ mặc, xây được nhà kiên cố  với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, con cái được học hành đến nơi đến chốn, nhiều người tốt nghệp đại học ở các trường danh tiếng lại trở về đây góp sức xây dựng quê hương. Theo quốc lộ 26A đến xã Ea Pil, hai bên đường xen kẽ những mảng xanh của mía là những ngôi nhà kiểu Thái… Tôi đề nghị dừng xe vào thăm một ngôi nhà hai tầng thiết kế khá đẹp mắt đang thi công ngay sát chân đèo 519. Nhắc đến đèo 519 trên quốc lộ 26A, chắc nhiều người còn nhớ đến trận đánh chiến lược mùa xuân 1975, ta tiêu diệt một tiểu đoàn lính ngụy chốt tại đây, cắt đứt đường tiếp tế từ phía đông cho Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên, góp phần quan trọng vào chiến thắng giải phóng Buôn  Ma Thuột. Khu vực này khi D22 thuộc Sư đoàn 333 về đóng quân, đêm đêm bộ đội vẫn thức để đốt lửa đuổi hổ về rình bắt bò và voi rừng về quậy phá; còn hôm nay, người dân vùng đất khô cằn này làm gì để có thể tồn tại ở đây chứ nói gì đến làm giàu!? Tôi vào sân, thật bất ngờ khi gặp ông chủ nhà lại là người quen cũ, anh Nguyễn Văn Hướng - người lính D22 năm xưa; nay tóc bạc, người mập ra, nhưng giọng Thanh Hóa không thể lẫn vào đâu được. Lâu ngày gặp lại, Anh hồ hởi cho biết: xây nhà, mua được ô tô đi chở hàng, các cháu đều lớn và đã xây dựng gia đình, làm ăn khá; tất cả đều bắt nguồn từ cây mía và nhờ cây mía mà lên cả đấy. Tôi hỏi thêm về các hộ gia đình còn khó khăn ở đây; anh cho biết: ở đâu mà chẳng có người còn nghèo, nhưng không còn ai đói nữa đâu. Để giúp cho những đối tượng thoát nghèo cần phải chung tay của cả xã hội chứ không thể trông chờ vào một mình chính quyền. Những hộ nghèo do thiếu đất canh tác hoặc không có vốn đầu tư. Ở vùng đất khô cằn như thế này nay đất đã trở nên chật chội; người ta đã làm nhà lên tận gần đỉnh đèo, có nhà còn đào cả đât gần chân nhà dựng bia tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh trong trận đánh giải phóng đèo tháng 3 năm 1975 để xây nhà để ở. Ở như thế này, ngay chuyện nước để sinh hoạt đã khó khăn nói gì đến phát triển kinh tế. Nếu cứ phát triển dân số như thế này không biết đến khi nào mới có thể giàu lên được! Chia tay anh Hướng, tôi tiếp tục đi. Đứng trên đỉnh đèo 519 nhìn xuống, xa xa phía tây đèo một ngôi trường cao tầng thuộc xã Ea Pin nước sơn còn mới, sừng sững mọc lên giữa màu xanh bạt ngàn của mía. Trên các triền đồi cỏ gianh khi xưa, nay được chia thành từng ô dài có đường lớn và cột điện cao thế đưa điện tới từng hộ gia đình. Những người dân hôm nay, trước kia là người lính sư đoàn 333 thuộc vùng đất D22 trước kia không ai còn ở nhà tranh vách đất nữa, cuộc sống của mọi người đã đổi thay.
   Sáng hôm sau tôi đến thôn Hạ Long thuộc xã Chư Pông, huyện Ea Kar. Tôi chọn thôn Hạ Long vì đây là thôn người Tày đầu tiên từ tỉnh Cao Bằng vào định cư từ những năm 90 của thế kỷ trước, khi ấy vùng đất này còn hoang vu lắm, hai mươi hộ làm nhà lọt thỏm giữa mênh mông rừng gianh. Trong một lần đi công tác qua đây, tôi đã thấy tất cả các ngôi nhà đều lợp gianh, trát đất; cuộc sống bữa đói bữa no. Còn hôm nay, gần một nửa thôn đã có nhà xây, số còn lại đều thưng ván lợp ngói hoặc tôn. Con đường rộng 6m mới được ủi in đầy vết xe máy. Trong căn nhà xây hai gian bốn phòng theo kiểu hình hộp, phòng khách có bộ xa lông đóng bằng gỗ hương, ông Hoàng Văn Dáy – Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Cư Prông cho tôi biết: Thôn mình nay đã có hơn 40 hộ rồi, cuộc sống thay đổi nhiều lắm, nhiều người đã khá giả vì người dân cần cù lao động và tiết kiệm nên không ai còn đói cả. Gần một phần ba số hộ có xe máy, nhà của đàng hoàng. Nhiều hộ gia đinh đã mua được ti vi, nhưng đến nay toàn thôn vẫn chưa có điện lưới quốc gia nên buồn lắm. Người dân chưa có nhiều hộ giàu được vì đất xấu, không biết canh tác cây gì cho phù hợp. Khi mới vào bắt chước người ta trồng cà phê, được mấy năm năng suất thấp quá, phá đi trồng điều, hơn chục năm sau, điều cho ít quả  lại phải phá đi để trồng mía, mía rớt giá lại phá trồng… cà phê. Vòng luẩn quẩn này không biết khi nào mới thoát. Thế cây mía hôm nay thì sao? Tôi hỏi thêm, ông cho biết: trước đây cây mía là cứu cánh của người dân, người ta đua nhau trồng mía và thoát nghèo. Nhưng vài vụ gần đây do mấy người đứng ra môi giới mua mía giúp nhà máy nên lợi nhuận trồng mía không được là bao. Giá như được nhà máy trực tiếp ký kết hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm như trước thì dân còn được lời tý chút, đàng này… Hiện nay các hộ trong thôn cũng vẫn đang trồng mía, nhà ít thì một vài ha, nhà nhiều ba bốn ha; người ta trồng vì không biết phải trồng cây gì ngoài cây mía; nếu tìm được cây thay thế, chắc cũng phải đổi thôi. Thôn Hạ Long (người dân Hạng Long tỉnh Cao Bằng di cư vào đặt tên quê mới chệch đi một tý cho có ý nghĩa: đất Rồng hạ - Rồng dừng), với mong nuốn trên vùng que mới sẽ phát triển trù phú, làm đẹp cho quê hương, đất nước và quả thật hôm nay đã rất đẹp; bao quanh thôn bạt ngàn màu xanh của mía, những cánh rừng mía xanh non mơn mởn vươn xa tít tắp, thỉnh thoảng xen trong rừng mía ấy là những khu đất nhỏ trồng cây cà phê, làm cho bức tranh quê thêm phần sinh dộng. Rời Hạ Long tôi vẫn băn khoăn không biết các anh ở Tổng công ty mía đường 333 có biết nguyện vọng của người dân ở đây không và người dân thôn Hạ Long đến bao giờ mới có điện lưới quốc gia để dùng!
Quay về xã Ea Týh, tôi mang những điều mắt thấy tai nghe ở thôn Hạ Long phản ánh xung quanh cây mía, trao đổi với ông  Trần Duy Khắc - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; ông cho biết: Tình trạng chung như thế cả, ngay gia đình tôi vụ này cũng trồng 2 ha mía liên kết với Tổng công ty mía đường 333. Năm vừa qua vì đường nước ta bị đường nhập lậu ngoại ép giá nên cũng phải thông cảm với nhà máy về giá cả mua mía nguyên liệu. Tuy Lợi nhuận người trồng mía không cao nhưng đất ở đây biết trồng cây gì nữa đâu,  đành “năng nhặt chặt bị - góp gió thành bảo” vậy thôi. Hiện nay xã Ea Tyh là vùng mía nguyên liệu chính của nhà máy, người dân trồng mía tất cả chưa thể ai cũng thành giàu nhưng chắc chắn sẽ không nghèo. Trong các cuộc họp chúng tôi cũng đã có kiến nghị với Tổng công ty, nhưng từ thực tế kinh tế thị trường như hiện nay ta đành phải chấp nhận! Đúng vậy, cây mía hiện nay trên vùng đất này là cây trồng chính, chưa có cây khác thay thế. Có đất trồng mía người dân sống được nhưng chưa thể làm giàu; trong tương lai nếu Tổng công ty không cải tạo giống mía và cách thức đầu tư cũng như thu mua nguyên liệu, chắc chắn người dân nơi đây khó chấp nhận tiếp tục trồng mía. Riêng xã Ea Tyh được xem như một vùng quê mới có bước phát triển toàn diện, công cuộc xã hội hóa Giáo dục nói riêng và “điện - đường – trường – trạm” nói chung đã đạt chuẩn (xã có tới ba trường phổ thông “Đạt chuẩn Quốc gia” giai đoạn một). Mức sống của người dân được nâng cao theo từng năm, kết quả đó phần lớn do cây mía mang lại. Để có bước phát triển lâu dài, chắc chắn Tổng công ty cần phải tìm cách khắc phục những tồn tại nêu trên để cùng phát triển.
Theo quy luật, công nghiệp phát triển sẽ kéo theo cuộc sống người dân trong vùng  được nâng lên; quy luật là thế, nhưng nếu ta không tổ chức tốt sẽ chỉ có một bộ phận giàu lên, còn không ít người lao động chân chính chỉ ở mức thoát nghèo. Những anh bộ đội Sư đoàn 333 năm xưa, nay là công nhân hay nông dân trên vùng quê mới, không những đánh giặc giỏi mà còn biết làm kinh tế giỏi. Có lẽ đó là bản chất của anh bộ đội Cụ Hồ mang trong mình truyền thống cha ông đi mở nước và dựng nước  nay đang cùng con cháu xây dựng quê hương thứ hai ngày một giàu đẹp; dẫu rằng vẫn còn nhiều khó khăn trước trước mắt. Nhưng chúng ta tin và hy vọng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính quyền địa phương, khó khăn nào rồi cũng sẽ vượt qua, để mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho tất cả mọi người nói chung và khu công nghiệp mía đường 333 nói riêng, sẽ có bước phát triển vượt bậc trong ngày mai, góp phần làm giàu cho một vùng quê nghèo.