Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - tác giả NGUYỄN DUY XUÂN



Ban Mê vào Hội - tác giả DUY THƯƠNG




XUÂN VỀ TRÊN CAO NGUYÊN

Tùy bút NGUYỄN DUY XUÂN


Hơn ba mươi năm trước, tôi đặt chân lên Tây Nguyên vào dịp cuối năm. Ấn tượng đầu tiên về mảnh đất này là gió và gió. Đã trải qua cái gió Lào xác xơ tháng sáu của quê hương xứ Nghệ nhưng vẫn thấy chưa thấm vào đâu so với cái gió của đại ngàn. Ầm ào suốt ngày đêm. Đồ đạc trong nhà lau chùi liên tục nhưng chỉ sau một lát bụi đỏ lại bám đầy. Chả thế mà Buôn Ma Thuột thời ấy từng được gán cho cái biệt danh: Bụi mù trời!
 Mùa khô Tây Nguyên nằm vắt qua giữa năm cũ và năm mới. Cái lộng gió của cao nguyên là minh chứng cho sự khắc nghiệt của khí hậu miền đất đỏ ba-zan, làm nên cái chất riêng của Tây Nguyên để rồi đọng lại trong thi ca, trong âm nhạc thành vần, thành điệu như mật ong rừng, làm say đắm lòng người. Nhưng bây giờ Tây Nguyên không còn gió ghê người như cái thời đậm chất hoang dã nữa. Những năm gần đây khí hậu Tây Nguyên dường như lạnh hơn vào tháng cuối năm. Chưa Noel mà đã thấy rét. Người ta nói vui dân Bắc vào khai phá Tây Nguyên không chỉ mang theo phong tục tập quán mà còn cả cái rét đặc trưng của xứ sở. Gió xào xạc, trời âm u, lành lạnh lại điểm mưa bụi nữa thì đúng là mùa đông xứ bắc đã theo con người vào đây rồi còn gì? 
Bây giờ đã qua Noel. Những nương rẫy cà phê bạt ngàn vừa thu hoạch xong. Buổi chiều nay sao lạnh thế! Tôi đã mặc hai ba lớp áo ấm mà đi trên đường vẫn thấy rét buốt da. Chả là có anh bạn thơ vừa từ thành phố Hồ Chí Minh lên hẹn gặp nhau tại Cư Kuin, nơi gia đình thông gia của bạn. Cư Kuin cách thành phố Buôn Ma Thuột chừng 20 cây số. Con đường mới nâng cấp, rộng rãi phẳng phiu. Mươi hôm trước nếu đi qua đây vào giờ cao điểm chiều có khi còn bị tắc đường. Những đoàn xe công nông lúc tan tầm hái cà phê về như dòng chảy không dứt. Trên xe chất đầy những bao cà phê tươi lại còn vắt vẻo vài ba người mũ áo che kín chỉ còn hở đôi mắt. Chẳng có luật giao thông nào áp dụng được vào cái giờ phút ấy. Mà thôi, đôi khi luật cũng phải nhường chỗ cho “lệ”. Ngày xưa ông bà chẳng đã nói phép vua thua lệ làng là gì? Cái lệ mà vì dân giàu thì cũng tốt chứ sao?
Anh bạn thơ tâm sự: khi chưa đặt chân lên Đắk Lắk, người thành phố chúng tôi cứ nghĩ trên ấy chỉ có rừng hoang rú rậm, cuộc sống của đồng bào chắc là vất vả lắm. Nào ngờ lên rồi mới biết cuộc sống người dân nơi đây khác hẳn. Nhà cửa khang trang, đường sá giao thông thuận lợi, đặc biệt là không khí trong lành, bầu trời thoáng đãng. Dân thành phố có nằm mơ cũng không có được cái không gian thiên nhiên trong sạch đến thế. Suốt ngày chúng tôi chui vô chui ra trong căn nhà ống nơi đô hội sầm uất mà cứ nghĩ thế là nhất rồi. Ai dè… Thật mừng cho bà con mình quá!
Anh bạn thơ yêu quí ơi! Nhớ lần đầu tiên về thành phố, chúng tôi choáng ngợp và cũng khao khát cái sầm uất, đầy đủ tiện nghi của chốn phồn hoa. Nhưng quả thực, trong thâm tâm, người Tây Nguyên không ai không muốn đổi cái sự trong lành, phóng khoáng trời đất phú cho mình để lấy cái bụi bặm, chật chội nơi phố phường đâu. Nói vậy thôi chứ quê hương mỗi người chỉ một, sao mà đổi chác được, phải không thi sĩ?
  Tôi rẽ theo con đường dẫn vào buôn. Nhà cửa của đồng bào bây giờ cũng nhô ra mặt tiền. Không còn cái cảnh nhà sàn trên thì người ở, dưới thì trâu bò, lợn gà chen chúc, hôi hám, lầy lội. Nhiều nhà còn được xây theo kiểu nhà Thái, mái ngói cao vút, đỏ chói. Đang mùa thu hoạch, nhà nào cũng chất đầy cà phê. Thứ đã khô thì đóng bao xếp ngay ngắn trong kho, thứ còn tươi thì ngồn ngộn ngoài sân.
Chiều chạng vạng. Gió lạnh buốt hai bên tai nhưng tôi vẫn thấy lòng mình ấm áp. Dọc hai bên con lộ, bà con tận dụng những khoảnh đất trống để trồng rau. Xu hào, cải bắp, xà lách… đang lên mơn mởn. Những thứ rau xứ lạnh này trước đây làm gì có ở mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió. Thế mà bây giờ theo cái lạnh nó cũng đã tìm đến định cư nơi miền đất hứa, sinh sôi, nảy nở tràn trề sinh lực. Nó đang hiển hiện trước mặt tôi, óng lên một màu xanh tươi non trong cái giá lạnh của một buổi chiều cuối đông. Những cơn mưa bụi lác đác cũng đủ làm cho cà phê bung nụ đầu mùa, điểm bông trắng muốt trên cái nền xanh thẫm đang bật mầm sau một vụ cà bội thu. Đấy là tín hiệu báo mùa xuân đang tới. Một mùa xuân căng đầy nhựa sống trên mảnh đất cao nguyên yêu dấu, quê hương thứ hai của tôi.

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - tác giả NGUYỄN LIÊN



Anh hùng LLVT Lê Hữu Kiểm




TRÊN LƯNG NGỰA CƯ YANG SIN



Trong chiến tranh ông là Trưởng ban Quân sự B5, sau là Chỉ huy trưởng Quân sự tỉnh Đắk Lắk, về hưu ông trở thành nhân tố điển hình phát triển đàn ong mật ở Đắk Lắk, ở tuổi tám mươi ông vẫn tiên phong xây dựng Câu lạc bộ Cựu chiến binh giúp nhau xoá đói giám nghèo; mặc dù ông là thương binh nặng mất đi tới bảy mươi hai phần trăm sức khoẻ. Theo ông điều hạnh phúc nhất là suốt đời được làm theo lời Bác Hồ dạy: “Thương binh tàn nhưng không phế!”. Giờ thì ông đã trở thành người thiên cổ, nhưng bản chất người lính cụ Hồ trong tư tưởng, việc làm của ông như vẫn hiển hiện trong trang truyền thống của lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk. Ông là anh hùng lực lượng vũ trang Lê Hữu Kiển.
Cách đây chừng 10 năm tôi thường tới thăm ông, mỗi lần có người tâm giao ông lại kể về đồng bào, về vùng đất Tây Nguyên mà ông nguyện gắn bó. Từng sống và chia sẻ với đồng bào từ những ngày vùng đất Tây Nguyên còn hoang sơ, đói khổ, ông học tiếng nói của đồng bào, và đội tuyên truyền vũ trang do ông phụ trách được đồng bào tin yêu, bảo vệ ông cũng như những người lính Cụ Hồ trước hiểm nguy. Ấy là lần ông đến buôn Sai gặp mí Tấc, một cơ sở cách mạng, đúng lúc giặc càn vào làng mí đã lấy nhọ nồi bôi lên mặt cán bộ Kiển rồi ấn xuống giường đắp chăn làm người ốm để che mắt giặc. Lần khác đến buôn Hơn, ông bị địch phục kích bắn bị thương, đồng bào bí mật chuyển ông vào hang chăm sóc, già làng A Tia vào rừng hái lá thuốc trị vết thương và nghiền từng hạt bắp non nấu cháo cho cán bộ Kiển ăn mấy tháng ròng. Trung đội vũ trang tuyên truyền do Lê Hữu Kiển phụ trách đã cùng đồng bào đấu tranh biến cả vùng rừng núi M’drăk kéo dài tới Krông Pa giáp Khu Năm thành vùng căn cứ cách mạng.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Tiểu đoàn 2 Êđê của ông cùng Trung đoàn 120 tập kết ra Bắc học tập, trang bị kiến thức chính trị và quân sự. Được tin, đồng bào từ khắp các buôn làng kéo đến đơn vị đòi giữ ông lại: “Nó là người của buôn làng ta rồi, không cho đi nữa đâu!”. Ông liền giải thích: “Đơn vị ra Bắc học tập rồi trở lại với đồng bào, không đi lâu đâu”.
Lời hứa đó đã kéo dài suốt năm năm. Trung đoàn 120 học tập rèn luyện tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; sau chuyển ra huyện Gia Lâm, Hà Nội trang bị kiến thức chính trị. Trong thời gian đó, Lê Hữu Kiển đã tranh thủ về quê cưới vợ, sinh con. Chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ, các đơn vị tập kết nhận lệnh trở lại quê hương chiến đấu. Cán bộ chiến sĩ người Êđê, Re, Xê-Đăng… được trở về vùng đất Tây Nguyên sum họp cùng gia đình người thân, còn Lê Hữu Kiển thì xa người vợ hiền cùng hai đứa con nhỏ tại đất biển Quảng Ngọc, Quảng Xương, Thanh Hoá lên đường làm nhiệm vụ của người lính giải phóng, trở lại núi rừng Tây Nguyên. Nơi đó có những gương mặt ân tình của đồng bào Êđê, M’nông đang ngong ngóng trông đợi.
Trở lại Tây Nguyên lần này, Lê Hữu Kiển với cương vị người chỉ huy, trực tiếp phụ trách đội tuyên truyền xây dựng cơ sở. Hàng tháng trời bí mật luồn rừng tiếp cận với từng gia đình đồng bào Êđê, M’nông quanh chân núi Cư Yang Sin tuyên truyền để đồng bào hiểu rõ về cách mạng mà cùng chung tay chống kẻ thù. Những lúc tưởng không vượt qua được trận sốt rét rừng, đói cơm, lạt muối, ông lại nhớ tới lần được gặp Bác Hồ trước lúc lên đường, lời Bác căn dặn như còn vang vọng trong tâm trí: “…Làm cách mạng phải biết tập hợp sức mạnh đoàn kết mới sớm hoàn thành!”. Vậy là những người lính Cụ Hồ do ông phụ trách, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào, chẳng bao lâu đã biến buôn Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao dưới chân dãy Cư Yang Sin thành vùng căn cứ cách mạng, nhiều trai tráng trở thành bộ đội, du kích. Có người khí tiết kiên trung cho đến lúc hy sinh như Y Ơn (sau này được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang).
Lúc bấy giờ tỉnh Đắk Lắk chia làm hai vùng, lấy quốc lộ 26 làm ranh giới. Phía Bắc giáp Gia Lai gọi mật danh Bê Ba (B3), phía Nam kéo dài giáp Quảng Đức gọi Bê Năm (B5). Lê Hữu Kiển giữ cương vị Trưởng ban Quân sự Bê Năm. Một người từng nếm trải đủ gian khổ, ác liệt, khó khăn thiếu thốn thì có gì lay chuyển được lòng tin của ông, kể cả khi đối mặt với lực lượng Fulrô. Đó là thời kỳ Ngô Đình Diệm mở chiến dịch khủng bố Fulrô, ông liền móc nối với Ama Năm, quận phó quận Lạc Thiện (huyện Lăk ngày nay), là chỉ huy bộ máy ngụy quyền cấp quận, đồng thời là thủ lĩnh Fulrô để cùng cách mạng chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Trong cương vị chỉ huy, Lê Hữu Kiển hẹn Ama Năm ra rừng gặp. Tên quận phó Ama Năm nói tiếng Pháp, ông Lê Hữu Kiển lại nói bằng tiếng Êđê, buộc Ama Năm quay lại nói bằng tiếng mẹ đẻ của mình: “Chúng tôi cùng nhất trí đánh Mỹ - Diệm, khi thắng lợi có cho chúng tôi thành lập nhà nước riêng không? Có cho theo đạo Tin lành không? Con em chúng tôi có được nuôi ăn học không? Có cho đổi bạc đông dương không? (khi ấy Diệm chỉ tổ chức đổi bạc trong một ngày), có cho chúng tôi dùng súng không?”. Trưởng ban quân sự Lê Hữu Kiển liền giải thích: “Đất nước ta là một, đồng bào Kinh, Êđê là anh em, làm sao lại phải có nhà nước riêng. Bác Hồ và Đảng luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, đi theo đạo không cấm. Các anh quyết tâm đánh Mỹ thì cần bao nhiêu súng sẽ được cấp. Các cháu nhỏ học lớp thấp gia đình nuôi, học lên cao tập trung thì nhà nước nuôi. Việc đổi bạc khi đánh Mỹ xong ta bàn”. “Vậy các ông giao cho chúng tôi việc gì?”. Ma Năm hỏi, Lê Hữu Kiển nói: “Trước mắt làm cho hai việc, thứ nhất kê khai danh sách hộ dân đói thật nhiều để Diệm viện trợ rồi chuyển lên rừng cho bộ đội. Thứ hai báo cho đại diện chánh tổng thấy bộ đội ở đâu không được báo cho quận tỉnh”. Từ đó bộ đội ta làm chủ hoàn toàn chiến trường. Từng chỉ huy nhiều trận đánh thắng lợi, nhưng trận đánh quận Lạc Thiện ngày 15 tháng 2 năm 1961 đã để lại dấu ấn đối với người Trưởng ban quân sự thì không bao giờ quên, đó là dùng ngay lực lượng Fulrô ở trong làm nội công. Kể cả mục sư Ama Rinh cũng cầm súng giết tên quận trưởng Cao Hữu Nhuận. Quận Lạc Thiện (huyện Lăk) giải phóng, Mặt trận dân tộc giải phóng Bê Năm ra đời, nhiều người trong lực lượng Fulrô ngày ấy trở thành Huyện uỷ viên, trong đó có Ama Minh được bầu làm Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng huyện…
*
Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài-Gòn, với quyết tâm bằng mọi giá phải làm chủ được vùng đất Cao nguyên trung phần. Bởi làm chủ được vùng đất chiến lược này, là kiểm soát được miền Nam Việt Nam và Đông Dương. Do vậy một con người gây cho Mỹ Nguỵ mối đe doạ tiềm ẩn như Chỉ huy trưởng quân sự Bê Năm Lê Hữu Kiển thì tên ông phải ghi đầu tiên trong danh sách phải loại trừ. Một lần Lê Hữu Kiển cùng người công vụ luồn rừng từ Đắk Lắk về Quân khu 6 họp (Quân khu 6 gồm các tỉnh nam Trung bộ và Tây Nguyên, Quân khu đóng ở Bình Thuận). Trở về hai thầy trò mỗi người cõng trên lưng một bao cá khô, người chỉ huy dặn người công vụ: “Cậu đem một bao cá vào biếu đồng bào, còn một bao nhập cho hậu cần làm thực phẩm cho đơn vị”. Từng sống với thủ trưởng nên cậu công vụ hiểu rõ tính cần mẫn, thương dân, thương lính của ông nên răm rắp thực hiện mà không thắc mắc. Về tới đơn vị ông thấy tan hoang vì bom đạn địch oanh tạc, người liên lạc hy sinh. Anh em cho biết trước khi những tràng đạn M60 trên trực thăng lia xuống căn cứ, chúng phát loa kêu gọi ông Hữu Vinh, Chỉ huy trưởng Bê Năm đầu hàng (Hữu Vinh tên thường gọi của Lê Hữu Kiển). Không thấy động tĩnh, khi đó chúng phát hiện một người đi giày đen đang lò dò bên bờ suối, một tràng đạn M60 liền cắm xuống cái bóng đó, người liên lạc trúng đạn hy sinh. Trên máy bay chúng tiếp tục mở loa kêu gọi rằng: “Chỉ huy Hữu Vinh đã bị chết, cán bộ, chiến binh cộng sản hãy bỏ súng trở về với chính phủ quốc gia…”. Sau đó mới biết cậu liên lạc đi giặt đồ, giày ướt anh ta mượn đôi giày của thủ trưởng đi tạm, ai dè đôi giày đen đã biến người chiến sĩ thành “Chỉ huy trưởng Hữu Vinh”.
Cứ để địch hí hửng với sự lầm tưởng của chúng rằng “trưởng ban quân sự Bê Năm đã chết”, ông thay bằng một cái tên khác cho mình: Lê Hữu Bảo. Cái tên Bảo trở thành tên gọi chính của ông cho đến sau này thể hiện trên cả tấm bằng khen. Tuy nhiên đối với đồng bào Tây Nguyên thì ông vẫn có cái tên thân thuộc là Ama Vinh. Còn với ông thì cái tên Hữu Vinh nó mang một ý nghĩa hết sức trọng đại, tên do đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt cho trước khi ông nhận nhiệm vụ trở lại Đắk Lắk cùng đồng bào Tây Nguyên chiến đấu. Họ Nguyễn là họ của Bác Hồ, Hữu Vinh là sẽ có ngày vinh quang, ông luôn tâm niệm như vậy và nhớ tới nhiệm vụ lớn lao mà trực tiếp Tổng tư lệnh giao cho. Đại tướng ví dải đất Đắk Lắk như chiếc đòn gánh nối hai đầu Khu Năm với Nam Bộ. Ta phải xây dựng cho được tuyến hành lang tại khúc cao nguyên này, nó là khúc ruột của đất nước Việt Nam (cơ sở của đường 559 sau này). Nhiệm vụ quan trọng nữa là phải chiếm được Cư Yang Sin, làm chủ được cao điểm trọng yếu này coi như ta cưỡi được trên lưng ngựa, chỉ có tiến lên.
Vậy là với cái tên mới Hữu Bảo, tiếp tục với vai trò Trưởng ban Quân sự B5, sau này là Tỉnh đội trưởng Đắk Lắk, ông chỉ huy lực lượng vũ trang chiến đấu thực hiện trọn nhiệm vụ của đại tướng giao cho, cả một dải Krông Bông, Lăk rộng lớn quanh chân cao điểm Cư Yang Sin trở thành vùng căn cứ cách mạng, giải phóng sớm nhất Tây Nguyên vào năm 1963.
Đầu năm 1970, Mỹ tổ chức đảo chính Hoàng thân Si-ha-núc, đưa Lon-no Xi-rích Ma-tắc lên cầm quyền ở Căm-pu-chia. Ngay lập tức Mỹ và ngụy Sài Gòn đã ồ ạt đưa 65 ngàn quân vượt biên giới Việt-Miên với hy vọng hòng cứu vãn tình thế bế tắc và hoàn thành kế hoạch “Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh” của chúng bằng các cuộc hành quân đánh phá kho tàng của ta dọc tuyến biên giới và ngăn chặn đường tiếp tế chiến lược Trường Sơn của miền Bắc với miền Nam. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân Tây Nguyên vào thời điểm gian khổ, ác liệt nhất thì trưởng ban quân sự Bê Năm Lê Hữu Kiển lại một lần nữa bị thương nặng phải chuyển ra Hà Nội cứu chữa. Do nhiều lần bị thương, thân thể gầy yếu, Bộ Quốc phòng có ý định đưa ông về làm Tỉnh đội trưởng Thanh Hóa để có điều kiện ở quê hương gần vợ con, dưỡng sức. Nhưng ông đã từ chối. Bởi chiến trường Tây Nguyên, nơi gạo muối thì thiếu, mà nắng lửa mưa rừng, gió ngàn thì thừa. Ai từng có mặt ở Tây Nguyên trong những ngày đánh Mỹ mới thấu hiểu hết cái tâm cái tình con người dành cho nhau, đúng như câu thơ của người lính nào đó đã viết:
“…Đã là lính nơi nào không gian khó
 Nhưng Tây Nguyên một lần ai đến đó
 Sẽ suốt đời mắc nợ - nhớ thương nhau”.
Vậy là ông xin trở lại Tây Nguyên chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.
Đất Tây Nguyên gắn bó với ông đến nỗi, khi đã về hưu những người dân từ các buôn làng vẫn kéo lên Buôn Ma Thuột thăm gia đình ông, bởi trong gian khổ chiến tranh ông đã cùng họ đánh giặc, thời bình rồi ông vẫn coi vùng đất Đắk Lắk là quê hương. Ông đã về xứ Thanh chuyển cả vợ con vào Tây Nguyên sinh sống. Mỗi lần gặp lại đồng bào ông lại trao đổi bằng tiếng dân tộc, người già lại vui miệng kể cho con cháu nghe về ông, một người từng thương yêu buôn làng Tây Nguyên như chính quê mình, thương người Êđê, M’nông như anh em ruột thịt. Và một điều luôn tự nhủ đời này sang đời khác không bao giờ được quên đó là tình đoàn kết Kinh-Thượng đã tạo dựng trên nền tảng gian khổ, hy sinh mới có.
Bây giờ ngồi viết những dòng này như lời tri ân dành cho ông, tôi lại thấy ông như vẫn mang dáng dấp một con người mảnh khảnh nhanh nhẹn, chân bước hơi tập tễnh vì thương tật chiến tranh, ông đạp xe đến từng nhà đồng đội thăm cách nuôi ong. Có  lúc ông đi về các buôn làng thăm đồng bào, vui mừng trước cuộc sống mới ngày một khởi sắc.

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - tác giả NGUYỄN TRỌNG TUẤT




Thêm chú thích


Tröôùc töôïng ñaøi Baùc

Bác vĩnh hằng giữa trời đất
Bác là thánh nhân
Áo ka-ki suốt nửa đời Bác mặc
Đức khiêm nhường đi suốt lòng dân

Bác không muốn gọi Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bác muốn ai ai cũng gọi Người là Bác
Bác giản dị chẳng phải vì ai khác
Bác là dân, Bác cũng ở dân ra…

Trước tượng đài
Tôi lặng lẽ dâng hoa
Lắng lời Bác như lời thiêng sông núi
Ta có Bác đưa đường, chỉ lối
Hạnh phúc đến từng ngày
Lời Bác hóa niềm tin.

SỐ: 245&246 - tác giả HỮU CHỈNH

Ngã Sáu Ban Mê về đêm


HÀNH KHÚC XUÂN HỒNG

Tùy bút


Ngan ngát đường xuân, hoa trắng rợp cành, rộn rã ong bay nặng bầu mật ngọt. Đắk Lắk cùng cả nước tràn ngập hương xuân, tràn ngập hy vọng một năm mới hạnh phúc, an khang.
Năm 2012 – Nhâm Thìn đầy biến động qua đi để năm 2013 – Quý Tỵ đến với biết bao niềm tin vào sự chuyển mình mà cất cánh.
Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và khó khăn chung của đất nước nên có một số chỉ tiêu chưa đạt nhưng sự cố gắng của Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà là đáng ghi nhận, đáng tự hào.
Năm 2012 nền kinh tế của tỉnh vẫn trên đà tăng trưởng, đạt 9,37%, cao gần gấp đôi so với cả nước là điểm son của niềm vui.
Con số biết reo ca: Nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 7.045 tỷ đồn, công nghiệp và xây dựng đạt 2.645 tỷ đồng, dịch vụ đạt 5.603 tỷ đồng là minh chứng cho bước đi vững chắc.
Năm đầu tiên sản lượng lương thực cây có hạt vượt qua ngưỡng 1 triệu tấn, tăng hơn 40.000 tấn so với năm trước. Một tỉnh Tây Nguyên với cây công nghiệp là chính mà lương thực đạt sản lượng cao, sao chẳng tự hào.
Kim ngạch xuất khẩu đạt 730 triệu USD, là một trong số ít tỉnh thành có xuất siêu. Thu ngân sách 3.702 tỷ đồng, tăng 7,9% so với năm 2011.
Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,8%. Mạng lưới y tế, văn hóa, giáo dục hướng về cơ sở, tới khắp buôn làng, vùng sâu, vùng xa để mỗi người dân thấy mình được hưởng phúc lợi xã hội mà Đảng mang lại.
Có những việc Dân chưa vừa ý bởi một số cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm mà quên mất phương châm lấy Dân làm gốc đã gây phiền hà cho dân nhiều nơi, nhiều lúc, nhưng niềm tin vào Đảng thì không chuyển lay.
Khép lại năm 2012 – Nhâm Thìn đầy biến động với bao gian nan thử thách để bước vào năm 2013 – Quý Tỵ, nhiều khó khăn đang chờ nhưng với ý chí và nội lực của mình, Đảng bộ và đồng bào các dân tộc trong tỉnh vững bước tiến lên.
Những chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 thể hiện lòng quyết tâm, thúc giục mỗi người nhìn về phía trước mà phấn đấu.
Tăng trưởng kinh tế đạt từ 11% trở lên, cao gấp hai lần chỉ tiêu chung của cả nước. Thu nhập bình quân đầu người đạt 28,2 triệu đồng dù dân số tăng nhanh cả sinh học lẫn cơ học với quy mô trên 1,8 triệu người.
Huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 15.000 tỷ đồng. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa 43.000 tỷ đồng, cùng với các siêu thị là cửa hàng nhỏ, lẻ ở các cụm dân cư. Người tiêu dùng ưu tiên dùng hàng nội hóa.
Kim ngạch xuất khẩu 750 triệu USD. Thu cân đối ngân sách Nhà nước 4.200 tỷ đồng là từng dòng mồ hôi đổ ra để mang về thành quả.
Đường liên xã, liên buôn mở rộng cho mạch máu giao thông phát triển. Nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa tuyến đường của tỉnh, của huyện mang nhiều lợi ích cho dân vùng sâu, vùng xa không còn ngăn cách.
Lưới điện về tới vùng sâu để 97,4% số hộ được dùng điện, bảo đảm tưới cho 75% diện tích cây trồng qua hệ thống thủy điện, thủy lợi để người dân chủ động canh tác, làm giàu trên mảnh đất của mình.
Tạo việc làm mới cho 26.000 lao động, trong đó có một số lao động xuất khẩu. Nâng dần tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 35%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 3%. Phấn đấu để những hộ cận nghèo được thoát nghèo bền vững.
Nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 27%. Các thôn, buôn có trường học lớp mẫu giáo tới 93% để phụ huynh yên tâm lao động.
Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo tiêu chí mới là 40,2%, đủ để chăm sóc sức khỏe mọi người.
96% số buôn có nhà sinh hoạt cộng đồng, vừa nắm thông tin vừa nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, gắn kết người với người từng cụm dân cư.
Quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Thế trận lòng dân là yếu tố cơ bản làm nên thắng lợi.
Lấy dân làm gốc nên đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện quyền dân chủ từ cơ sở để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Báo chí nối lòng Dân ý Đảng, thông tin cập nhập cả nội tỉnh, cả nước và thế giới. Cả ba loại báo nói, báo viết, báo hình cùng trang báo điện tử nêu nhiều gương người tốt, việc tốt và những nét riêng về văn hóa ở Đắk Lắk để người đọc, người nghe, người xem càng yêu mến bản sắc riêng vùng đất mà ra sức xây dựng quê hương.
Cuối năm 2012 nhiều tin vui dồn dập đến với cả nước. Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên vừa khánh thành, là tượng đồng lớn nhất, cao tới 15,3m. Phía sau và hai bên tượng là phù điêu bằng đá tự nhiên, dài 58m, cao 11m.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc vừa công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di dản văn hóa phi vật thể của nhân loại, là di dản văn hóa phi vật thể thứ 7 của Việt Nam. (Trước đó là Ca trù, Quan họ, Nhã nhạc cung đình Huế… đặc biệt là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên mà Đắk Lắk góp phần quan trọng).
Thủy điện Sơn La vừa khánh thành 6 tổ máy với công suất 2.400MW đã vượt anh cả Hòa Bình, do ta tự thiết kế, thi công, xây dựng đã về đích trước ba năm, đó là tài trí Việt Nam.
Mùa xuân 2013 – Quý Tỵ đang chờ. Các lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột, Đua voi Buôn Đôn, Đua thuyền Krông Ana hay hồ Lak đang chờ đón du khách đến với miền đất yêu người.
Rượu cần lại ngọt môi xuân, lửa trại bập bùng, vòng xoang cuồng nhiệt đêm dân vũ, mắt tình tứ đắm say trong lời ay ray quyến rũ.
47 dân tộc anh em chọn Đắk Lắk làm mái nhà chung hòa nhịp hành khúc xuân hồng.

Đón xuân 2013 – Quý Tỵ




CÂU ĐỐI
Ơn Bác – Đảng cao dày,
Xuân tiếp xuân ghi Đức
Tình Quân – Dân sâu nặng,
Tết nối tết khắc tâm.
HỮU CHỈNH




Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - Tác giả NGUYỄN NGỌC PHÚ


Cây bàng vuông trên đảo Lý Sơn


TỔ QUỐC

Toâi nhìn leân baûn ñoà Toå quoác
Maøu ñoû cuûa ñaát laãn vaøo xanh caây
Toå quoác toâi thaân thieát baøn tay
Khi xoøe ra chaûy thaønh nhöõng doøng soâng
Khi naém laïi thaønh chieán haøo caêm giaän

Toå quoác – nôi ñòa ñaàu phía Baéc
Truøng ñieäp quaân ñi theá nuùi chaäp chuøng
Meï boàng con hoùa ñaù chôø choàng
Caâu thô khaéc nguùt ngaøn aûi Baéc
(Vaãn maøu hoa Maän Traéng ñeán nao loøng)

Toå quoác ôû Tröôøng Sa
Ngöôøi lính ñöùng hoùa thaønh coät moác
Quaû baøng xanh daùng daáp queâ nhaø
Ñaûo noåi, ñaûo chìm vaãn mang maøu ñaát
(Nhôù laøm sao xao xaùc tieáng gaø)

Toå quoác – nôi taän cuøng Ñaát Nöôùc
Muõi Caø Mau xoøe roäng caùnh chim
Caâu voïng coå theo ngöôøi ñi môû ñaát
Aùnh chôùp xanh vuït saùng ñaàu löôõi maùc
(Tieáng ong ruø rì maät ngoït röng röng)

Toå quoác!
Maây traéng bay vaãn moät saéc Ba ñình
Doøng ngöôøi saùng nay vaøo laêng vieáng Baùc
Traêm gioïng noùi, mieàn queâ boãng hoùa thaønh Ñaát Nöôùc
Trong saéc ñoû sao vaøng – Hoàn Toå quoác bay leân.

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - tác giả NGUYỄN THỊ BÍCH THIÊM


Nhà văn - Nhà giáo Nguyễn Thị Bích Thiêm

CHÁU ĐÍCH TÔN

                                                       Truyện ngắn Nguyễn Thị Bích Thiêm
          - Thằng Cán về đấy!
- Thật không? Có ai về cùng không?
    - Chú ấy về thật không? Còn người kia…có về không?
Những tiếng lao xao của dân trong ngõ Yên Định cứ râm ran theo sau bước chân người đàn ông khắc khổ, da nâu sậm. tay kéo theo chiếc va li có bánh xe để dễ di chuyển. Sở dĩ mọi người chú ý như vậy vì đây là cuộc trở về thăm quê của một người thuộc họ Trần, một dòng họ lớn của cái phố huyện nhỏ này. Nhất là khi người ấy lại có thêm một nhân vật nữa đi cùng: một thằng bé mũm mĩm, cỡ tám chín tuổi, da trắng bóc, mũi cao, mắt hơi nâu và hàng mi cong vút. Đó chính là Cán cùng thằng con trai của mình. Một lớn, da nâu sậm, một nhỏ da trắng bóc, lũn cũn đi bên cạnh…Họ trở thành tâm điểm cho mọi người vì vậy.
      Cán vốn là con trưởng của họ Trần. Nhà có sáu người con thì chỉ nhõn mình Cán là con trai. Nghe nói khi xưa mẹ cậu phải đi mãi tận Hương Tích xin mới được. Có lẽ vì thế nên cả nhà chiều cậu như ông vua con vậy. Dù nhà chả dư dật gì, nhưng hễ cậu thích ăn gì có ngay, thích đồ chơi gì, có ngay. Người cậu chắc lẳn, da nâu như đồng hun. Chỉ tội cái học dở, hai năm một lớp…Gần cuối lớp 7, cậu bỏ học. Thầy chủ nhiệm cho các bạn đến động viên, Cán nói:
- Học mệt bỏ mẹ! Tớ đếch thích!
Câu nói lọt đến tai bố. Ông gọi Cán vào, ngọt nhạt dỗ dành, rồi hứa hẹn sẽ thưởng nếu đi học đều đặn… Và ông làm thật. Tiền, xe máy, điện thoại…đã được trao, nhưng tình hình học tập của cậu ấm thì đâu vẫn đóng đấy. Cuối năm Cán bị đúp. Bố mẹ thì buồn, còn cậu thì nhơn nhơn: “ Cần quái gì học nhiều? Anh thằng Tí đó, học xong rồi cóc xin được việc lại về bám đít trâu đấy thôi?”. Thấy bố Cán đau khổ vì thằng “đít nhôm” ngỗ nghịch, chán học, có ông chú trong họ làm giáo viên đã giúp ông “phù phép” cho hợp lệ quyển học bạ và xin chuyển cho Cán vào học tiếp ở trường mình dạy. Cứ sắp đến hết học kì, hết năm học ông chú lại phải đến nhà thầy cô “Xin được đồng nghiệp giúp đỡ”. Ngày cháu thi tốt nghiệp lớp 9, ông chú (đã xin nghỉ coi thi) bà thím chạy vòng vòng ở ngoài cổng, nhờ người ném bài cho cháu. Bà chì chiết: “ Trông nó mặt mũi cũng sáng láng mà sao ngu quá vậy? Suốt ngày đi xin điểm cho cháu, ông không thấy nhục à?”. Ông cố nén, nhưng  sức chịu đựng có hạn, cuối năm đó Cán tốt nghiệp lớp 9, ông  nói với anh trai:
         -  Em đã cố hết sức rồi. Anh nên xin cho cháu đi học việc đi.
Ông Cán nghĩ mà đau. Chả gì ông cũng là trưởng họ, lại có mỗi một mụn con trai mà cái sự học lại chẳng bằng ai…Mấy bà bạn của bà thì nói tại vì năm Cán 12 tuổi, bà không đi chuộc lại nên cậu bị “trên hành” như vậy. Sau rồi, bố mẹ cậu cũng đành nghe lời chú và cho Cán nghỉ học, chờ xin việc. Khi cả thị trấn xôn xao việc tuyển người đi lao động xuất khẩu nước ngoài, Cán nằng nặc đòi bố mẹ chạy tiền cho cậu đi. Bố thì đồng ý, riêng mẹ thì sợ “ thằng Cu” sang đó phải vất vả nên tru tréo không cho đi. Nhưng vốn được chiều từ nhỏ nên Cán doạ: “Hễ không cho, thì con đi bụi ngay!”. Thế là bà đành đồng ý. Tiếng là khá giả, nhưng với số tiền hơn hai trăm triệu làm lộ phí, hồ sơ, thủ tục thì không đơn giản. Cuối cùng, sau bao nhiêu chạy vạy, vay mượn khắp họ hàng, món tiền đã nộp xong. Và Cán chỉ còn chờ ngày lên đường thôi. Ai dè, cái tay Dũng là cò chuyên lừa đảo lấy tiền mà chả làm gì hết. Chuyện vỡ lở, hắn trốn đi biệt tích, để lại bao người méo mặt vì món nợ chạy cho con đi Tây. Nhà Cán cũng vậy. Khi mẹ cậu đổ bệnh vì tiếc món tiền, còn bố ôm ngực ho sù sụ, thì Cán tuyên bố: “ Không đi Tây Âu, thì ta đi Tây…Nguyên!” Ở đó có cậu ruột đang làm chủ một trang trại cà phê lớn. Năm 1994, giá cà phê đội lên gần năm ngàn đồng một kí tươi, nên nhà cậu kinh tế lên vùn vụt nhờ cà phê. Mỗi lần về, cậu thường giúp đỡ mọi người trong họ. Vì thế, ai cũng nghĩ cuộc sống trong đó dễ chịu và sung túc. Qua câu chuyện của cậu về những món lợi nhuận từ cà phê, rồi hương vị rượu cần, gà nướng, heo Đê, những voi Buôn Đôn, thác Đray Sáp, thác Trinh Nữ… đã khơi gợi óc phiêu lưu của gã trai vốn quen thích gì được nấy. Cán coi nơi đó như miền đất hứa.Và thế là với cái ba lô trên vai, sau hai ngày ngồi xe ca, vào một ngày cuối năm, Cán quyết định làm một chuyến Tây… Nguyên tiến.
      Thất vọng! Đó là cảm giác đầu tiên khi Cán nhảy từ trên xe xuống lúc nghỉ dọc đường. Cỏ ngập đến ngang thắt lưng. Một thứ cỏ xanh tốt và quấn chặt lấy chân cậu khi bước đi. Những rẫy cà phê bạt ngàn, những rừng cao su trồng thẳng hàng, đều tăm tắp…Cảnh hoang sơ, dân cư thưa thớt khiến Cán thoáng nghĩ: “Bỏ mẹ! Mình có nhầm không?”. Cũng may cảm giác đó chỉ thoảng qua khi đến thị trấn chỗ cậu ở : những dãy nhà xây lô nhô, đường trải nhựa bàn cờ, dân cư đông đúc hơn đã giúp Cán vui dần lại.
       Sau vài ngày nghỉ ngơi, Cán được cậu giao cho việc trông coi và canh rẫy của nhà cùng với bác Ba – một ông già quê Hà Nam. Từ cậu, mợ đến hai đứa con và những người làm công đều có nước da nâu khoẻ mạnh và rất hay nói chuyện. Những bữa cơm dọn ra trên tấm bạt ở góc rẫy khi họ hái cà phê, cắt cành, đào bồn; rồi những câu chuyện, những lời bông đùa, trêu chọc…Cán đều thấy một sự chan hoà, thân thiện của những người chân chất, mộc mạc. Trong số những người  làm công đó có Vi, một cô gái mà Cán bị hút hồn ngay từ khi mới gặp. Vi mới mười tám tuổi và là cháu họ bác Ba. Mới học hết lớp chín, do gia đình đông con nên Vi phải nghỉ học để phụ làm rẫy cùng cha mẹ. Cả nhóm làm công toàn  người lớn. Vậy nên khi Cán xuất hiện, cả hai đã nhanh chóng quen thân ngay. Cán thấy Vi dáng thanh mảnh, da trắng, tóc dài, nói năng lại dịu dàng nên mê tít. Còn Vi, thấy Cán ăn nói dễ nghe, ăn mặc hợp thời trang lại hay giúp cô những việc lặt vặt nên cũng say chẳng kém. Đôi trẻ yêu nhau lúc nào chẳng biết. Mê mẩn trong tình yêu, Cán chẳng nghĩ đến về quê nữa. Lúc nào, làm gì cậu cũng lâng lâng cái cảm giác như bồng bềnh say trong ánh mắt ngọt ngào hay cái chạm tay khi vô tình gặp nhau của Vi. Rồi một lần, hai đứa đã “vượt rào”. Trong lúc nhấm nháp dư âm ngọt ngào của tình yêu, Cán cầm tay Vi và nói: “Anh sẽ về nói bố mẹ để cưới em!”. Vi chìm trong niềm hạnh phúc và men tình nồng nàn nên càng dâng hiến cho người tình những con sóng yêu đương cháy bỏng của tuổi xuân thì. Thấy Cán suốt ngày luẩn quẩn bên Vi, ông cậu nhắc cháu:
- Anh yêu thì yêu, chứ lấy thì không được!
- ?
- Mới tí tuổi đầu, nuôi thân chưa nổi mà vợ con gì?
- Ơ hay! Cháu hai mươi rồi đấy, cậu ạ.
-Tôi không biết. Tôi chỉ biết anh chưa tự kiếm sống được mà vướng vợ con vào rồi khổ thân anh đã đành, mà vợ con anh, rồi bố mẹ anh cũng khổ. Hai bác có mà chửi tôi ủng mả! Cán ấm ức trong bụng, nhưng vì ngại cậu và cũng nghĩ: “ Yêu cho vui vậy ai đã lấy đâu mà rối cả lên!” nên cũng cho qua mọi chuyện.
      Năm ấy cà phê bị rớt giá thảm hại. Dân trồng cà phê điêu đứng vì thu nhập không đủ bù cho chi phí phân bón, tưới tắm, nhân công…Người dân bắt đầu giảm bớt các chi phí đầu tư cho cây cà, và lác đác có người nhổ cà phê và trồng các loại cây như hồ tiêu, điều, ca cao… Nhà cậu Cán cũng giảm bớt số người làm rồi rủ mấy nhà hàng xóm đổi công cho tiết kiệm. Thu hoạch xong vụ cà phê đầu tiên vào đất Tây nguyên, Cán xin cậu cho về quê. Ông cậu ngạc nhiên: “Anh vào mới có ngần ấy thời gian, về làm gì vội? Sắp tới còn tưới tắm, bón phân với làm cành rồi”. Ông không biết là Cán đang bắt đầu thấy tù cẳng và đang muốn bay tiếp. Cán nghĩ ra chiêu gọi điện về nói với mẹ gọi Cán về có việc. Thế là ông cậu cũng phải cho Cán về sau khi bắt hứa là sẽ quay vào ngay.
          Cán về lớp ấy lại gặp đúng dịp có mấy người đi Malaixia đợt đầu tiên về phép. Nghe họ kể, Cán lại bùng lên khát vọng đi Tây. Bố mẹ cậu lại chiều theo ý của “đích tôn”. May là lần này con rể của ông chú giáo viên kia là công an của tỉnh, nhờ tài quen biết của em họ nên Cán đi trót lọt.
Sau ba tháng học tiếng tại Hà Nội, đoàn của Cán gồm 45 người được đưa sang làm công nhân xây dựng tại một công trình ở miền trung Malaixia. Kể ra thì cũng chả đến nỗi nào vì chỗ ăn chỗ ở cũng tạm được, và quân nhà ta tự chia nhóm và phân công nhau nấu nướng lấy. Tuy nhiên, thời tiết ở đây nóng kinh khủng, có ngày lên đến 41, 420 C, Cán vốn không quen lao động nặng, lại kém chịu nóng nên càng thấy mệt mỏi. Những ngày ở Tây nguyên, mang tiếng “rừng thiêng nước độc”, nhưng khí hậu khá ôn hoà, lại chỉ trông coi, làm phụ với những người làm đổi công nên dẫu sao cũng thấy dễ thở hơn ở đây. Mỗi tháng được nhận 1200 ringgit. Lần đầu tiên nhận lương, nhẩm tính ra chỉ khoảng gần sáu triệu tiền Việt, tự nhiên Cán thấy xót xa. Và nhớ lại những lần đi sinh nhật bạn bè toàn xin tiền mẹ để đốt vào rượu, bia và những trò vô bổ khác. Một cái gì gần như là ân hận dâng lên trong lòng. Cán gọi về cho mẹ. Chưa kịp nghe hết câu chào đầu tiên, bà đã hối hả nói ngay:
- Cán đấy à? Mẹ đây. Con có khoẻ không? Công việc có vất vả   không? Con có bị ốm đau gì không? Con ăn uống thế nào? Gọi điện thế này tốn tiền chết!
Cán phì cười:
- Mẹ ơi! Con vẫn khoẻ. Con mới lĩnh lương đây này…Nhưng ít lắm, có hơn sáu triệu thôi. Bố mẹ vẫn khoẻ chứ? Nhà ta có gì mới không ạ?
- Cha bố anh. Lấy lương mà cũng khoe mẹ, như trẻ con vậy. Bà nói nhỏ, giọng méo đi: Sáu triệu thì sáu triệu…Cứ chịu khó đi. Rồi dần dần sẽ cao hơn con à. À mà hôm trước cậu Quân mới gọi điện về đấy.
-Vậy à, cậu nói chuyện gì vậy mẹ?
- Thì cậu hỏi con sang đó thế nào. Mà có chuyện này, mẹ hỏi thật con (bà hạ giọng): Hình như con có “đi lại” với con bé nào ở chỗ cậu phải không?
- Sao mẹ hỏi vậy? Đâu có gì đâu!
- Cậu Quân nói hết với mẹ rồi. Con bé Vi ấy có con rồi đấy. Mà là con của ai, con biết không?
- Làm sao con biết  được. Con ai hả mẹ?
- Ai biết là con ai…
- Không đâu mẹ ơi! Vi yêu con thật đấy.
- Con ngây thơ quá. Chả gì con cũng là con trai duy nhất của nhà ta, chả giầu bằng ai, nhưng cũng không phải là nghèo, rồi cậu con kinh tế khá giả… Bây giờ con lại đi Tây…
- Ôi, mẹ… Cán bật cười khẽ: Con đi làm thuê mà mẹ.
- Mẹ không biết. Thôi, việc đó kệ đó đã. Con cứ yên tâm mà làm ăn, về rồi tính. Có gì bố mẹ sẽ tìm hiểu thêm rồi bàn với cậu.
Tắt máy rồi, Cán vẫn chộn rộn bao cảm xúc. Mình có con ư? Vi bây giờ ra sao? Mình phải làm gì bây giờ? Lấy Vi ư? Mình vừa mới sang, làm chưa được một mảy nhỏ trong món nợ vay để làm thủ tục sang đây để đạt ý nguyện làm giàu, giờ mà về lấy vợ thì bỏ hết ư? Tự nhiên Cán thấy lạ khi mình đang tính toán rất tỉnh táo và những ý nghĩ về Vi, tình cảm ngày trước hình như bay đâu tất cả.
…Hai bố con Cán đã về đến ngõ. Bà Cán chạy từ trong sân chạy ra:
-  Ông ơi! Cháu về rồi ông ơi! Bố con thằng Cu về thật ông ơi! Bà chạy ào lại ôm lấy thằng bé. Nó giật lùi lại một bước, nép sau bố. Cán đẩy con lên:
-  Con chào bà nội đi!
Thằng bé vẫn mở to mắt, nhìn bà Cán bằng cái nhìn lạ lẫm. Bà hơi chững lại một chút, rồi lấy tay khẽ vuốt vai nó:
-  Cha bố anh! Bà nội mà anh cũng không chào hử? Bà quay sang mọi người, cười, nói,  mà mắt rân rấn lệ: Con với chả cháu. Thật là…
- Thôi, bà ơi! Cháu nó còn lạ mà. Ông Cán vừa ra nói đỡ vừa giơ tay cho thằng bé: Đâu, cháu của ông đâu? Vào nhà cùng ông nào...
Đêm hôm đó, khi mọi người đến chơi đã về hết, bà Cán bế thằng bé vào trong buồng ru ngủ (nó đã hết lạ và đã chịu theo bà), trong nhà chỉ còn hai cha con. Ông Cán ngồi trầm ngâm mãi sau ông mới chậm rãi:
-Thế mẹ thằng bé vẫn không chịu à?
- Dạ! Vẫn vậy. Trước đây, người ta  nói cô ấy sang bên Thái Lan đẻ thuê. Còn thực hư thế nào, chả ai biết. Năm 2009, cô ấy về, mở một cửa hàng bán mỹ phẩm, làm đẹp và cho thuê đồ cô dâu. Khấm khá lắm. Nhưng con nói thế nào cũng không chịu chấp nhận. Nó cứ khăng khăng: “Tôi không còn tình yêu với anh nữa! Tình yêu ấy đã chết từ khi đứa con tôi và tôi bị anh chối bỏ. Tôi không thể làm vợ một người lúc nào cũng vâng lời người mẹ chỉ quen nhìn người khác qua cái ví tiền, hoặc vì giấc mộng làm giàu mà gạt đi sinh mạng những người thân của mình. Tôi  đã và sẽ sống tốt để anh thấy rằng:  không có anh, mẹ con tôi cũng không chết. Anh đi Tây về, anh cứ ôm cái đống của ấy mà sống, tôi không quan tâm”. Khiếp, sao bây giờ nó đanh đá thế không biết? Hôm nọ, con phải nhờ ông bà ngoại nói mãi, nó mới đồng ý cho con dắt thằng bé ra đây đấy.
- Ừ, chắc nó giận lắm mới nói thế. Kể cũng tội. Ngày đó, giá như cha   mẹ tin nó ngay, vào cưới hỏi rồi đón nó về thì đâu có chuyện này. Mà nó cũng cứng đầu và hay tự ái quá. Mẹ mày mới nói vài câu hôm cùng cậu đến nhà nó, mà nó nhất định trả lại tiền, rồi sinh thằng bé mà không cần nhờ vả gì…Cũng may là ông bà ngoại thằng bé cưu mang cho. Ấy vậy mà lúc nó phẫn chí, bỏ đi thì ông bà ấy cũng không ngăn được…
-  Dạ! Lỗi cũng tại con. Lẽ ra, khi về quê con bớt chơi cùng nhóm bạn đua đòi, suốt ngày nuôi mộng làm giàu bằng việc đi Tây, để  liên lạc với Vi, rồi khi sang đây nghe mẹ nói chuyện Vi có thai, con phải nói cho bố mẹ tin và động viên cô ấy, thì con lại sợ bị lỡ dở chuyện làm ăn. Thành ra bây giờ…
-  Mà con bé ấy cũng giỏi đấy chứ? Dẫu lỗi lầm thế nào, nhưng biết vươn lên sống đàng hoàng là không phải dễ đâu. Nó giận nhà mình cũng đúng, con ạ. Thôi, con cứ cố gắng thuyết phục nó dần dần. Biết đâu một lúc nào đó,  nó nghĩ lại về để sum họp gia đình. Khi đó có vợ có chồng, thằng bé có bố, có mẹ… Bần cùng thì mới phải lìa nhau mà làm lại, chứ hay gì cái cảnh: "Con đen đầu thì bỏ, con đỏ đầu thì nuôi". Chúng mày có hạnh phúc thì bố mẹ mới hết ân hận và yên lòng được.
-  Dạ! Con tính chuyến này con sẽ hợp tác với cậu để mở thêm một đại lí có bán các máy móc dụng cụ có liên quan đến cà phê như máy lọc quả, máy sấy, máy đánh cỏ, máy xay, máy bơm... Hàng năm, vừa tiện mở rộng làm ăn vừa ở gần chỗ  mẹ con nó để thăm nom thằng bé và …chờ mẹ nó thay đổi.
- Thế nếu chị ấy vẫn không chấp thuận anh thì sao? Bà Cán từ trong buồng nói vọng ra.
-  Thì…Con đành chịu chứ sao? Sau này thế nào không biết, chứ hiện tại con cũng ngại chuyện vợ con lắm. Cơ bản nhất là con phải tạo dựng cơ sở làm ăn đã, rồi nuôi con. Con tin cô ấy sẽ nghĩ lại…
Cán ra đóng cánh cổng lại. Mảnh trăng non đầu tháng như cặp mắt khép hờ, nghiêng nghiêng trên bầu trời mịn màng, lấm tấm những vì sao xa xăm. Tự nhiên Cán thấy nhớ ánh mắt đắm đuối của Vi nhìn anh hôm nào.
“ Vi ơi! Anh sẽ chờ em nghĩ lại. Về với anh và con, em nhé!”

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

SỐ: 245&246 - tác giả KHÔI NGUYÊN

Nhà văn Khôi Nguyên

CÁI RĂNG SÂU


Truyện ngắn của Khôi Nguyên

Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng. Tôi bị cái thứ nhì hành hạ.
Khỏi phải nói đến nỗi khốn khổ của người bị đau răng. Nó nhức nhối, tê buốt. Đau thật mà người ngoài cứ tưởng như giả vờ. Thậm chí có người không biết bệnh tình, nhìn mặt một hồi rồi thật lòng khen một câu: “Dạo này mập mạp ra, chắc có phát tướng phát tài gì đây…” Người được khen phải méo miệng mà cười, vừa cười vừa chảy nước mắt, vừa ôm má mà giải thích rằng do đau răng nên cái mặt nó sưng lên chứ phát phét quái gì.
Mà cái bệnh nhức răng nó chẳng như một vài căn bệnh khác ở chỗ đến hẹn lại lên. Chẳng hạn như bệnh khớp hay bệnh hen suyễn thì mỗi khi thay đổi thời tiết vào độ giao mùa là thế nào cũng lên cơn; hoặc bệnh gút, bệnh tiểu đường chỉ cần vài bữa thả phanh, không kiêng khem gì là sẽ có chuyện… Biết thế nên dễ đề phòng. Riêng bệnh đau răng thì chẳng biết đâu mà lần. Nhai thịt gà bữa này qua bữa khác liền tù tì mà chẳng sao. Gặm móng gò, nghiến thịt bò mỏi cả hàm mà vẫn không hề hấn gì… Hình như nó như một con yêu quái, lúc nào rửng mỡ lên là nổi hứng hành hạ. Nó đã hành hạ thì như một kẻ động cỡn, khó kiềm chế.
Lần đau đầu tiên, có người bày: “Lấy lá lược vàng nhai, ngậm nước là hết”. Lại có người bày: “Ngậm rượu là khỏi”. Rồi: “Nhét muối hạt vào cái răng sâu”… Đúng là có bệnh thì vái tứ phương, nhưng gặp thầy mà không gặp thuốc thì cũng chẳng ăn thua. Ra hiệu thuốc đầu phố, nói triệu chứng, chủ hiệu thuốc cắt cho một toa 3 loại thuốc khác nhau và dặn: “Uống sáng và tối. Loại này và loại này thì mỗi lần uống một viên, còn loại này thì uống hai viên.” Thuốc viết toàn bằng chữ Tây, cái đơn thuốc cũng loằng ngoằng chẳng biết là chữ Tây hay chữ Ả Rập, tôi mù tịt, nhưng vẫn ra vẻ hiểu biết, cố gỡ gạc: “Uống sau bữa ăn phải không ạ?” “Ừ, nhưng nhớ là loại nào thì uống hai viên, loại nào thì uống một viên.” “Thì vẫn, thứ nào nhiều thì uống hai, còn thứ nào ít thì uống một.” Cả chủ lẫn khách cười sảng khoái bởi tâm đầu ý hợp. Uống hết nửa cơ số thuốc theo đơn thì anh bạn bác sĩ đến chơi. Tôi khoe sự công hiệu, anh cầm cái đơn thuốc và túi thuốc của tôi săm soi một hồi rồi nói: “Toàn là loại thuốc giảm đau và thuốc kháng sinh. Chỉ tạm thời thôi. Lần sau phải uống liều cao hơn đấy. Tốt nhất, ông đến chỗ bác sĩ nha khoa mà khám.”
Tôi ậm ừ vì nể bạn. Ai chả biết là lắm thầy rầy ma! Nghe thầy thuốc phán, mỗi thầy một phách, bố ai theo được!
Bẵng được nửa năm. Đau lần hai, tôi cầm đơn thuốc ra hiệu trước đây. Ông chủ hiệu ngó đơn thuốc cũ rồi mở hộc tủ, cắt bốn loại thuốc khác nhau, cũng dặn uống ngày hai lần, cũng loại uống một viên, loại uống hai viên.
Sau hai tháng. Đau lần ba. Lại toa thuốc khác với liều lượng cao hơn.
Đau lần bốn, lần năm, lần sáu… tần suất ngày một ngắn hơn.
Đến bây giờ thì cái răng sâu đau bất cứ lúc nào. Chỉ cần không dùng tăm xỉa kỹ sau bữa ăn là đau; nhai vướng phải cái gì cưng cứng, là đau; không vì lý do gì, cũng đau.
Chợt nhớ lời anh bạn bác sĩ. Nhưng tôi cực kỳ ngại. Cứ tưởng tượng ra cái lúc bác sĩ nha khoa bảo: “Há miệng!” thế là phải ngoác cái mồm chẳng lấy làm đẹp đẽ thơm tho ra cho ông (hoặc bà) ấy thò thanh gỗ vào đằn cái lưỡi đầy rêu nhớp nháp vì hút thuốc và uống rượu, rồi thọc cái cây I-nốc vào soi mói, gõ gõ lên những chiếc răng cải mả đã bị lớp cao răng vôi hoá (biết đâu còn dính bựa cơm, thậm chí là cả một xớ thịt hay búi xơ rau già của bữa ăn vừa qua còn dắt lại)… Nghĩ vậy mà rùng mình. Tốt đẹp cũng là cái mồm, mà xấu xa cũng là ở cái mồm. Ấy là chưa kể đến việc “cái răng cái tóc là góc con người”. Tự dưng lại đem cái “góc” chẳng lấy gì làm hay ho, tốt đẹp của mình cho người khác thấy rõ.
Nhưng lâu lâu, cái răng sâu lại rửng mỡ làm loạn. Ăn không được, ngủ không được. Mỗi lúc nó lên cơn là muốn đập đầu vào đá cho hết đau. Bài học vệ sinh “Không cho tay vào miệng” được học từ thuở còn nằm trong nôi nhưng tới cái tuổi nửa xế cuộc đời vẫn bị tôi giả vờ quên trong lúc nhớ đến nó nhất. Mỗi lần đau quá, tôi thọc cả bàn tay vào, dùng ngón cái và ngón trỏ, ra sức ấn, lay cho nó tê đi, nhưng cũng chỉ được một vài phút rồi đâu lại vào đấy. Vẫn cứ đau là đau.
Vợ con tôi mỗi lần thấy cái mặt của tôi bất bình thường là biết ngay: “Cái răng sâu lại hành hạ rồi phải không? Nhổ quách đi cho rồi! Mỗi lần đau là khổ vợ khổ con, cả nhà cùng nhau húp cháo!” Tôi cũng thương vợ con lắm chứ. Họ thông cảm với nỗi đau của tôi, họ sẵn lòng đồng cam cộng khổ với tôi, họ chấp nhận hy sinh nhu cầu cuộc sống thường nhật vì tôi. Nhưng họ thừa biết tôi có cái quyền làm cha, làm trụ cột của gia đình, họ chỉ biết góp ý, góp ý và đóng góp ý kiến... góp ý chưa được thì tiếp tục góp ý nữa. Tôi chỉ đáp lại bằng câu: “Yên trí đi, đau sẽ có thuốc chữa!” (Nhưng giả sử vợ con tôi mà chỉ có một người kêu đau bụng xem, tôi sẽ bắt cả nhà phải uống thuốc xổ giun; hoặc nấu nồi canh mà phát hiện ra có con sâu, tôi sẽ hắt cả mâm cơm đi chứ chẳng chơi).
Chợt một ngày kia, tôi nhận thấy rằng vợ con góp ý hoài rồi cũng nản. Họ cứ lẳng lặng nấu cơm, kho thịt, ninh xương… làm những món mà người đau răng không thể nhai (nhưng vẫn có thêm một nồi cháo nho nhỏ); dần dần việc đau răng của tôi xảy ra thường xuyên, họ mặc kệ, tôi ăn được gì thì tự lo mà ăn, đau lúc nào thì tự tìm thuốc mà uống. Họ đã bàng quan không tin vào việc chữa trị cái răng sâu của tôi!
Có lần tôi nghe lỏm được mấy đứa nhỏ nhà tôi thì thầm với nhau: “Mỗi lần cái răng sâu của cha tái phát, người ngoài lại bảo là do cha ăn ở bẩn, em xấu hổ ghê gớm, muốn làm con nhà người khác cho rồi!” Tôi rụng rời chân tay. Cũng may là ở cái tuổi đầy kinh nghiệm và nhiều lý luận nên tôi phải im lặng mà suy nghĩ với cái lý của đám con yêu quý. Ừ, nó góp ý mà mình không nghe, sai đấy mà mình không sửa thì nó nản, nó chẳng thèm tôn trọng mình, nó còn chẳng muốn chấp nhận mình là cha của nó nữa… Thế thì lỗi từ đâu? Chắc chắn là từ cái răng sâu!...
Tôi ưỡn ngực bước vào phòng khám nha khoa với tâm thế sẵn sàng: “Miệng lưỡi tôi đây, cứ việc săm soi. Nhưng chỉ khám răng thôi nhé! Có cái răng sâu nào thì nhổ hết đi!...”
Quả thực, sau liều thuốc tê, tôi chỉ thấy đôi môi mình không làm chủ được chừng mươi phút, cái lưỡi mình không làm chủ được mỗi khi phát âm, cái miệng mình ngọng nghịu khi muốn nói… Nhưng rồi đã nhổ được cái răng sâu mà nó vẫn gây đau nhức. Cũng còn một số cái răng khác đang có triệu chứng sâu nhưng chưa đến nỗi gây đau.
Thôi thì thà khuyết một cái răng trong hàm còn hơn để lại mà nó gây đau cho cả một cơ thể; thậm chí là nó làm nản lòng ngay cả những người thân yêu.