Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả MỸ NGA



Mưa chiều Ban Mê


Những vòng xe em trôi không định
Chiều bất chợt rơi mưa
Ngả Sáu có người đứng sững
Bàn tay năm ngón ơ hờ

Có phải anh là bóng mưa bất chợt
Một ngày rơi xuống đời em
Để lại bao niềm nhung nhớ
Cho thơ với mộng êm đềm

Lớ ngớ
em lòng vòng Ban Mê phố
Nên đánh rơi lắm chuyện vụng về
Mai trở lại anh ơi có gặp
Đừng cười em lốc ngốc nhà quê

Em giữ mãi mưa Ban Mê bất chợt
Như giữ anh giây phút gặp ban đầu
Dù tháng dù năm đi mãi
Em một mình đứng sững dưới mưa ngâu…!









Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả NIÊ THANH MAI


Nhà văn NIÊ THANH MAI

Sinh ngày 29.07.1980 tại Đắk Lắk
UV BCH Hội Văn học-Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam
UV BTV, Phó chủ tịch Hội VHNT Đắk Lắk
Hiện là Phó Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk
Đã xuất bản: Suối của rừng (2005) ; Về bên kia núi (2007) ; Sớm mai rực rỡ (2010)
Giải thưởng: Giải trẻ cho tập truyện Suối của rừng do Liên hiệp các Hội VHNT VN trao tặng (2005); Giải nhì truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội (2006),…




SỚM MAI THOANG THOẢNG…

Truyện ngắn



Tôi mặc áo mới vào một buổi sáng thứ bảy. Khi cha dắt chiếc xe 50 của  tiếng nổ gầm gừ đi ra cổng, ông đi lướt qua tôi và mỉm cười âu yếm, rồi ông nổ máy phóng vụt đi, chỉ có vệt khói xe mờ mờ hăng hắc thoảng lại.
Mẹ dắt tôi xuống ruộng rau. Đường đi xuống ruộng rau muống rất trơn và hẹp nhưng mẹ đi băng băng. Tôi vẫn chơi một mình, cặm cụi trên bờ ruộng với chiếc áo màu đỏ chói. Mẹ cặm cụi dưới ruộng rau muống với đôi ủng cao su dài qua bắp vế, chiếc nón cũ nhấp nhô giữa xanh um. Lúc lấp loáng nước thì mẹ trở lên, cả người sực lên mùi nắng đến khét thịt.
Tôi lớn lên bên bờ ruộng. Và đôi khi tự hỏi sao chưa bao giờ mình lộn cổ xuống đám ao bùn thơm rau mùi rau quế. Và giả sử nếu tôi có lộn cổ xuống ao, chắc ngày hôm sau mẹ không thể lội ra ruộng bằng đôi ủng cao su quá gối để cặm cụi dưới trời gay gắt.
Một vài lúc nào đó tôi nghĩ cha không phải là một người bình thường. Ông vừa cười với tôi âu yếm nhưng quay lưng lại có thể ném vào mặt mẹ tôi cái thúng, cái mẹt bà để quên dưới sàn nước( Mẹ rất hay quên, ngày nào cũng quên cái gì đó vật gì đó hay việc gì đó- Những khi quên mẹ lẳng lặng đi tìm kiếm, khuôn mặt nhợt nhạt và nín lặng khi cha nổi cáu). Cha không cho mẹ con tôi qua lại nhà ai, kể cả nhà cậu út cách nhà tôi mười ba bước chân, thậm chí cha cũng không muốn cho mẹ sang nhà bà ngoại non cây số. Cha gầm gừ khi cậu mợ sang nhà. Cậu giận. Mợ giận. Rồi họ hàng giận. Nhất là họ thấy mẹ tôi thụt lùi sau cánh cửa không phản ứng gì. Đổi lại ông mua cho tôi nhiều đồ chơi, kể cả những thứ tôi không bao giờ thích ông vẫn treo đầy nhà.
Mẹ không có bạn. Tôi cũng không có bạn. Hai mẹ con cặm cụi chơi với nhau.
Cha bảo thương tôi. Ngay cả khi ngầy ngật trong cơn say không đi nổi vào nhà ông vẫn lặp đi lặp lại câu nói cũ kỹ ấy. Chỉ có điều tôi không muốn đáp lại cái tình thương của cha dù ông cặm cụi ở ruộng rau từ hai giờ sáng.  Khi mùa rau cần, ông thức giấc lúc 1h sáng mà không cần đồng hồ báo thức. Ông vác đống rau cần lên bờ, chân lủm chủm nước dưới ánh sáng mờ mờ của bóng đèn compac, mẹ tôi vừa giũ lá héo, vừa bó cần thoăn thoắt. Cả hai không nói gì với nhau cho đến khi mẹ xốc gánh cần ngồi sau xe honda cho cha chở ra chợ đêm bán mối.
Tôi không thương cha vì chứng kiến cảnh mẹ khóc phía bên hông nhà.
Mẹ khóc giữa ruộng rau muống.
Mẹ khóc giữa luống cải xanh đã trổ ngồng, hoa vàng phơ phất giữa trời trưa nắng.
Nước mắt mẹ lúc nào cũng được giấu trong ống tay áo cũ kỹ. Mẹ khóc nhiều nhất mỗi khi cha uống say sau cuộc hội hè giỗ chạp gì đó. Những lúc ấy ông chì chiết mẹ bằng cái giọng rin rít trong cổ họng. Câu chuyện chắp vá không đầu không cuối. Giọng điệu buồn phiền ngủ quên giữa lè nhè của rượu. Mẹ cặm cụi dọn dẹp nhà cửa, cặm cụi lau cổ lau chân lau tay và  chườm khăn ấm trong khi cha mắt nhắm nghiền và miệng không ngớt nguyền rủa. Một đôi lần nào đó tôi chứng kiến cảnh ông co chân đạp mẹ quay đơ xuống giường. Bà lồm cồm bò dậy, tiếp tục lau người xoa đầu đắp mền cho ông.  Những lúc ấy tôi giận mẹ ghê gớm.
***
Một ngày tháng năm.
Cha đưa về nhà một người lạ. Người đàn bà có khuôn mặt dài, áo xanh nhàn nhạt bước vào nhà, ngồi rón rén ở tấm phản rộng m2, hai bàn chân nhấc lên khỏi mặt đất một cách nhẹ nhàng. Tôi ngồi lọt thỏm trong lòng mẹ, hết nhìn cha lại nhìn người đàn bà mặt dài. Lâu lắm tôi mới thấy nhà mình có khách. Nhưng mẹ không xăng xái hớn hở như tôi vẫn tưởng, bà ngồi yên lặng trên ghế. Ngồi rất lâu. Lâu đến mức độ tôi không thể cựa quậy hơn nữa vì mông ê ẩm.  
Người đàn bà lạ mặt dài ở lại nhà tôi. Và ngủ ở bộ phản rộng m2. Mẹ đưa tôi sang nhà bà ngoại, mẹ bảo đêm nay bà mệt, mẹ con mình sang trông bà. Cha không nói gì, lúc ấy tôi sung sướng quá đỗi bởi chưa bao giờ được dắt ra ngoài đường lúc tối trời như thế. Đoạn đường sang nhà bà ngoại sụt sùi nước mắt của mẹ, và bước nhảy chân sáo của tôi. Tôi ngủ quên giữa tiếng thút thít của đêm khuya. Hôm đó tôi được ngủ với mẹ đến sáng, khi tỉnh dậy vẫn mải miết vùi sâu vào gầy guộc thoang thoảng mùi rau cần.
Tôi không thích việc tối nào cũng sang nhà bà ngoại.
Người đàn bà mặt dài không còn rụt rè ngồi ở góc phản nữa, bà ấy ngồi ngoài sân, tẩn mẩn xếp rau vào sọt và nhẩm đếm tiền. Người đàn bà mặt dài thường nhìn mẹ dắt tôi ra khỏi nhà bằng một đôi mắt lạ, lúc bối rối lúc ngại ngần rồi sau đó là bình thản.
 Rồi một buổi sớm mai.
Bà ngoại thức tôi dậy bằng đôi tay run. Cậu mợ ngồi bên cạnh. Tất cả những đồ đạc ở góc tủ gỗ cũ kỹ của bà chỉ còn lại một khoảng nhỏ. Quần áo, búp bê tóc hoe hoe của tôi. Đồ đạc của mẹ biến mất. Mẹ đi đâu. Mẹ bỏ đi rồi Sin à. Đi đâu? Bà không biết. Cậu không biết. Mợ không biết. Đáp lại sự giãy giụa khóc lóc của tôi là khuôn mặt nhợt nhạt xanh xám của cha. Ông đến tự bao giờ.
Không ai nhìn cha ngoại trừ tôi, ông né tránh ánh mắt ngơ ngác đầy giận dữ của tôi. Hình như lâu lắm rồi tôi mới thấy ông cúi gằm mặt như vậy, cúi  để nhìn mãi bàn chân to bè nứt nẻ, cha năn nỉ tôi rất lâu nhưng tôi không chịu theo ông về nhà _ nơi có người đàn bà mặt dài đang lặt lá héo rau cần ngoài sân _ Cha rớm nước mắt. Mặc. Tôi ở lại với bà ngoại. Có lẽ mẹ sẽ về vào sáng mai sáng kia hay ngày nào đó sớm thôi.
***
Lâu lắm sau đó.
Khi nào tôi biết mình lớn. Hôm trăng. Hôm sớm hay một ngày nào đó xa lắc. Vồng ngực căng. Tóc cuốn tít giữa đỉnh đầu. Mọi thứ giấu kín trong khẩu trang và áo sơ mi cũ dài lượt thượt.
Tôi ra chợ vào lúc 3h sáng. Rau từ ruộng muống của bà. Rau húng rau thơm rau quế từ vườn của cậu. Mỗi ngày tôi quảy mọi loại rau trong quang gánh. Giữa mờ mờ trăng sáng, tôi thích hít hà sự mỡ màng của thứ xà lách rôn vừa hái đêm trước. Tôi cười với người mua sỉ với nụ cười rám nắng, và trả lời rất kiệm lời trong tất cả cuộc mua bán của chợ đêm.
Gia đình của cha có một sạp bán rau ở gốc si đằng kia, dưới ngọn đèn cao áp mờ mờ nhạt nhạt của chợ đêm. Cha thường mặc áo xanh lao động nhàu nhĩ, quần lúc nào cũng tất tả xắn ngang ống quyển. Vội vã chào, vội vã thối tiền và vội vã chạy theo khi tôi đi qua - Một đôi lần tôi thấy bụng người đàn bà ấy phưỡn to, khuôn mặt sưng vều. Nhà của cha cách nhà bà ngoại chỉ hơn cây số, mà tôi không còn biết gì về cuộc sống hiện tại của ông. Lúc nào tôi cũng hả hê vì điều đó - Cha vẫn hay níu tay tôi lại hỏi con có khỏe không sống có tốt không… Tôi đáp lại ông với cái nhìn ngơ ngẩn, cái nhìn của buổi sáng lúc mẹ tôi đi.
Tôi vẫn nghĩ sớm hôm nào đó, khi đi chợ về sẽ thấy mẹ. Mẹ ngồi trong căn buồng nhỏ nhìn xuống vườn qua ô cửa sổ có song sắt rỉ sét. Mẹ hỏi sao về muộn thế, có nhớ mẹ không. Hay sao con gái cưng của mẹ lớn nhanh thế, mẹ còn chẳng kịp nhận ra. Cũng sớm hôm nào đó, mẹ sẽ lội xuống ruộng muống , bảo lâu không xuống ruộng nhớ mùi bùn quá con gái à. Rồi sao đó, sao đó.
Cậu dắt tôi ra khỏi cơn trầm uất của mười một năm. Sự chờ đợi mẹ nguôi đi khi người đàn ông xuất hiện ở ngưỡng cửa. Cậu mợ bảo muốn tôi lấy chồng. Tôi lặng lẽ ( lúc nào cũng lặng lẽ nghe, lặng lẽ cười và lặng lẽ nhiều thứ khác nữa) nghe người này người kia nói chuyện. Bà muốn người ấy ở rể. Bà chỉ có con bé cháu tật nguyền. Nhà cửa đấy. Ruộng vườn đấy. Túc tắc làm rồi nuôi nhau. Rồi sinh con đẻ cái.
Tôi không hiểu vì sao người đàn ông ấy muốn lấy tôi. Anh chàng chở rau mướn cho người bán mối ngoài chợ đêm hay nhìn tôi dịu dàng. Hay hỏi han. Và đôi lúc đặt giữa sọt rau của tôi mấy cánh bánh cam nóng hổi. Tôi khóc nơi bậc thềm cuối cùng xuống ruộng. Tôi cũng muốn lấy chồng. Nhưng bao giờ mẹ về nhìn con gái lên xe hoa.
Tôi không lên xe hoa. Vì không có cuộc rước dâu nào. Người đàn ông  gầy nhẳng có đôi mắt ấm mồ côi cha mẹ, sống trong căn phòng mướn 500000 ngàn đồng một tháng trở thành chồng của tôi sau bữa cơm nho nhỏ. Cô dâu nhỏ xíu, váy dài chân ngắn nên váy quét đất. Bà ngoại sung sướng. Cậu và mợ nhét phong bì dầy cộm vào lòng bàn tay đẫm mồ hôi của tôi. Cha đến sớm. Trong buổi lễ gia tiên, ông cho tôi nhiều thứ: Kiềng đeo cổ, vòng đeo tay, nhẫn tay trái tay phải. Cha dịu dàng: Cha không thể bù đắp cho con Sin à, còn giận cha thì bỏ qua cho cha con nhé. Tôi không nghĩ mình còn giận ông. Cũng có khi tôi nhìn thấy tóc ông lơ phơ quá. Cũng có khi tôi nhìn thấy thân hình ông quắt queo và sặc sụa mùi rượu quá. Cũng có khi vì tôi thấy giận mẹ nhiều hơn. Mẹ của tôi mải miết với cuộc viễn chinh nào đó, mẹ của tôi không thèm quay về để nhìn tôi lấy chồng. Tôi gục lên vai chồng nức nở : Bao giờ mẹ về em sẽ đóng cổng không cho bà vào nhà.
Tôi có một đứa con. Xinh xẻo. Ồn ào bi bô.
Rồi một đứa con gái thứ hai. Xinh xẻo. Cũng ồn ào như chị.
Từ bao giờ bà ngoại quên mất từng có mẹ trên đời. Bà mải mê với những đứa chắt. Bà ngoại thích bế chúng sang nhà hàng xóm hoặc gọi lũ trẻ con sang nhà chơi với chắt bà. Nhà lúc nào cũng ngổn ngang đồ chơi trẻ con. Ồn ào. Tôi quanh quẩn với con cái: sáng đút cháo, trưa đút cơm, dỗ dành cười nói. Những khi đi ngang qua nhà cha - bọn trẻ con – mặt dài, tóc hoe nắng ngồi yên lặng trên ghế trên xích đu trên bậc thềm hiên nhà hanh nắng chơi đồ hàng. Bán rau. Người đàn bà mặt dài lặt rau héo. Bó rau muống ở đúng cái ghế con giữa sân như mười một năm trước xa lơ xa lắc. Chúng chơi với nhau. Lẳng lặng như mẹ chơi đồ hàng với tôi của ngày nảo ngày nao.
Chồng chạy sấp ngửa vào nhà, hối hả bảo tôi mặc áo khoác. Để làm gì. Đi với anh. Anh nghĩ nhìn thấy mẹ của em. Nhưng anh đã từng nhìn thấy mẹ tôi bao giờ đâu. Tôi ngơ ngác nhưng vẫn bươn bả chạy theo anh. Mũ bảo hiểm cài mãi không được vì mọi thứ trong tôi run rẩy. Nếu không phải đó là mẹ! Nếu người đàn bà anh nhìn thấy là mẹ của tôi. Tôi sẽ khóc. Sẽ mừng. Sẽ cuống quít ôm chầm lấy bà. Rồi sao nữa. Mọi thứ trở nên buốt và lạnh. Như hơi sương sớm hai bên đường xộc vào mũi vào mắt.
Tôi bám chặt lấy càng xe, cũng không nghĩ bàn tay khi siết vào nhau thì đau đến buốt óc.
Người đàn bà tóc búi thoăn thoắt vặt lông gà giữa ngổn ngang lồng gà lồng vịt. Đanh đá, cười sặc. Gian hàng ngun ngút khói sặc mùi cứt gà. Ồn ào tiếng gà thét lên khi bị cứa cổ. Tiếng gà quát quát sau nhát dao gọn.
Tôi dợm buồn ói. Sự nhộn nhạo của chợ phiên sớm. Khẩu trang hở hai mắt nên không ai nhìn thấy điều đó. Bên này đường, tôi tựa hẳn vào lưng chồng. Có phải mẹ không em. Không biết. Mẹ tôi mỏng manh. Mẹ chỉ biết lội ruộng bó rau, mắt lúc nào cũng cùm cụp vì nhặt rau héo rau sâu. Mẹ chưa bao giờ cười sặc như thế. Mẹ chưa bao giờ mắng người làm chao chát như thế. Về đi anh à. Không phải mẹ hả em. Mẹ em đấy. Đâu có nhầm được. Sao em không vào nhận mẹ.
Sao em không vào nhận mẹ. Sao tôi không bươn bả băng qua đường, len giữa lồng gà lồng vịt, giẫm lên cứt gà lông gà để gọi mẹ ơi, mẹ ở đây à. Vậy mà để con đợi mãi. Mẹ ơi, mẹ quên con rồi à. Người này là ai. Người làm của mẹ hay chồng mẹ. Chồng mẹ là gã lái gà phải không?
Tôi tháo khẩu trang xuống thì mẹ có nhận ra tôi không? Chắc là có. Con gái vẫn nép sau lưng mẹ mỗi khi cha gầm thét. Con gái vẫn rúc vào ngực mẹ thầm thì mẹ ơi thơm mùi rau cần quá thì mẹ quên sao được. Nước mắt tôi ướt đẫm mọi thứ. Khẩu trang. Vạt lưng của chồng. Đường về xa lắc, xa như không biết ngày nào mẹ tìm về nơi ruộng rau của bà của tôi.
Tôi cũng không biết mình có đủ sức để khóa trái cổng khi mẹ dừng một ngày cắt cổ gà quay về không. Đêm nay tôi sẽ nghĩ. Đêm mai tôi sẽ nghĩ. Thoang thoảng chồng tôi tha thiết. Băng qua đường vô hỏi mẹ có nhận ra con không đi em...

Hết mùa rau cần rồi mà sao xuống đến ruộng vẫn thấy lá cần chấp chới.

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả BÙI HUYỀN TƯƠNG



Ngẫu hứng xuân

Những vi mạch tựa thời gian vượt qua đường biên tháng chạp
Chạm mùa xuân
Khởi sắc
Ta ngược chiều em có nhận ra không?
Trên vòm ngói rêu nâu đôi chim ríu ra ríu rít
Con sáo lẻ
Từ cành xoan bay sang cành phượng
Mùa ngoan cho hoa thắm hiên nhà
Và đây nữa buồng cau giăng tơ nhện
Nắng xuân về thao thức giữa trời xanh
Em lơ đãng
Hay em vờ lơ đãng!
Hoa cải an nhiên hoa cải vẫn vàng
Ta đã qua miền cát nắng
Bâng khuâng chi
Bấm đốt tay chi
Em ạ!
Xuân đã về đừng tin mình thêm tuổi
Mây trắng bay
Mây trắng vẫn bay mà!




Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả NGUYỄN HOÀNG THU





TÂY NGUYÊN MÙA XUÂN

Tùy bút



Tây Nguyên mùa xuân xanh màu xanh trùng điệp với núi cao rừng rộng sông dài và tiếng cồng chiêng ngân vang trong những buôn làng người dân tộc bản địa đã say đắm lòng tôi từ tháng năm nào mới đến đất này. Mới đây mà hơn hai mươi năm qua. Một Tây Nguyên xanh xán lạn mãi trong tôi, dù thời gian đã đổi thay dáng vẻ sắc màu; nhiều cánh rừng tàn, nhiều dòng sông cạn, đó đây trong buôn làng mùa xuân vắng lặng tiếng cồng chiêng ngân nga thánh thoát cộng hưởng tình người với người với hồn núi sông. Một Tây Nguyên đổi thay đáng mừng, từ rặng núi lớn Ngok Linh có đỉnh cao 2.595 mét (tỉnh Kon Tum) đến dãy Chư Yang Sin cao 2.442 mét (tỉnh Đắk Lắk) xuôi về tỉnh Đắk Nông với ngọn núi Tà Đùng cao 1.982 mét, suốt chiều dài phía nam Trường Sơn hùng vĩ này là một vựa cà phê khổng lồ của đất nước, rộng hơn 400.000 hecta, cho sản lượng trên dưới 1 triệu tấn nhân/năm. Đây là con số biết nói biết cười trong cuộc sống con người, từ khi chủ động được nguồn nước tưới sau ngày thu hoạch quả đỏ đầu mùa khô để từ đó nẩy nở rộn ràng hoa trắng đón mừng xuân đến. Khi những bông hoa trắng cuối cùng trên nhánh cà phê vừa tàn, lại là lúc ruộng đồng lúa vụ đông-xuân trên bình nguyên rộng lớn chuẩn bị mùa thu hoạch với hơn 50.000 hecta, đạt năng suất cao nhờ chủ động nguồn nước tưới cùng bàn tay trí tuệ con người gieo cấy trên đất màu bazan. Một Tây Nguyên xanh còn có các loại cây công nghiệp dài ngày khác, trong đó bạt ngàn vườn cây cao su thay lá mới mùa xuân từ tỉnh Kon Tum, Gia Lai qua Đắk Lắk, Đắk  Nông...
Có chút gì buồn trong lòng tôi khi mùa xuân đến, đó đây ở Tây Nguyên không còn thấy màu hoa pơ lang đỏ rực như lửa trên nền trời xanh đầy nắng. Những cánh rừng mất đi đã mang theo màu hoa đỏ nồng nàn tô điểm sắc xuân bên những cánh hoa cúc quỳ vàng. Và dòng sông lớn Sêrêpôk lấp lánh nắng không còn đầy đặn nước êm trôi giữa đôi bờ rừng khộp vừa thay lá xanh non. Từ thượng nguồn cao bên chân núi Chư Yang Sin đến hạ nguồn rừng quốc gia Yốk Đôn, dòng sông dài với hai phụ lưu Krông Ana và Krông Knô hợp thành đã vơi cạn dần theo năm tháng bởi bàn tay vùi lấp rừng cây và xây dựng những công trình thủy điện. Cái được và cái mất của Tây Nguyên không thể xem như một so sánh đánh đổi ngang bằng khi sự thiệt hại lâu dài đã biến đổi diện mạo thiên nhiên xanh đầy cây già bóng cả với hàng triệu hecta rừng đã mất trắng cùng những dòng sông vơi cạn từ đầu nguồn. Mất rừng cây xanh với rừng tầng thấp, rừng tầng giữa, rừng tầng cao đầy kỳ hoa dược thảo và tiếng chim hót ca là mất đi sắc màu văn hóa thiên nhiên cùng bản sắc văn hóa của những cộng đồng người dân tộc thiểu số sống hồn nhiên đủ đầy với cảm hứng thủy chung tôn trọng sông nước rừng cây kề cạnh buôn làng.Tây Nguyên mùa xuân những năm gần đây thưa vắng dần tiếng cồng chiêng thiêng liêng tỏ lòng biết ơn vào những ngày cúng bến nước, cúng lúa mới, lễ bỏ mả đưa hồn người thân đến thế giới khác, có khi là tiếng chiêng hân hoan đón mừng khách đến, cũng có khi là âm vang rộn ràng niềm vui mừng lễ cưới gái trai của buôn làng. Một Tây Nguyên hùng tráng thơ mộng hữu tình đầy sắc màu văn hóa bản địa đã nhạt phai dần khi sông cạn rừng tàn theo năm tháng. Âm nhạc cồng chiêng, tiếng cồng chiêng vang lên đó đây giữa buôn làng gần buôn làng xa thiếu vắng rừng cây xanh bến nước đầy, không còn âm hưởng nhịp điệu đắm đuối thiết tha từ bàn tay tâm tình những nghệ nhân không còn giao hòa cộng hưởng với thiên nhiên hào phóng như ngày nào...
                                 *
Vẫn còn một Tây Nguyên xanh đó đây khi mùa xuân đến trên đất này, xanh màu sông suối núi rừng, vườn cây công nghiệp, đồng ruộng lúa và màu xanh trên những khuôn mặt người vui. Khác với mấy mươi năm trước, những đô thị Tây Nguyên giờ đã đổi mới, đẹp trong vẻ khang trang thoáng đãng với những con đường xanh hàng cây bóng lá và công viên tươi tắn nở đầy sắc hoa, từ thành phố vùng cao Kon Tum có dòng Đắk B'La chảy ngang qua, đến phố núi Plei Ku gần mặt nước hồ Tơ Nưng xanh, đến thủ phủ Buôn Ma Thuột có hồ rộng Ea Kao nơi ngoại thành và những con suối nhỏ vây quanh cùng chảy vào sông lớn Sêrêpôk, cuối cùng là thị xã vùng đồi Gia Nghĩa tọa lạc hai bên bờ sông Đắk Nông của tỉnh mới mang tên sông Đắk Nông. Những ngày đầu năm mới, nắng vàng xuân lan tỏa đất trời với làn gió nhẹ đẩy đưa cành lá non xanh làm nên một Tây Nguyên lồng lộng in dáng hình núi rộng sông dài, bấy lâu lôi cuốn khách du lịch yêu thiên nhiên đến với vùng đất này. Đến Buôn Ma Thuột, thành phố đầy cây sao xanh và cây muồng hoa vàng với hàng trăm quán cà phê thơm hương Robusta, không ai quên niềm vui hăm hở bước chân nơi xứ sở của những dũng sĩ săn bắt voi có ông vua voi Kunjunốp lưu danh từ trăm năm trước còn lưu lại căn nhà sàn cổ mái gỗ cũng đã trăm năm, cũng là quê hương nổi tiếng Bản Đôn của vua voi Ama Kông sống hơn trăm tuổi, đã lưu truyền và nổi danh bài thuốc rễ, lá, dây rừng mang thương hiệu Ama Kông. Đến Bản Đôn bên dòng sông rộng Sêrêpôk chảy giữa đôi bờ rừng cây họ dầu vừa thay lá của Vườn quốc gia Yốk Đôn rộng 115.000 hecta, du khách không thể nào quên một lần ngồi trên lưng voi nhà dạo quanh bến nước buôn làng các dân tộc Êđê, Jrai, M'Nông , M'Nông-Lào  từ bao đời sống bên sông bên rừng; xa hơn nữa, người nài voi thuần thục kinh nghiệm sẽ đưa khách sang bên kia bờ, ngồi vững vàng trên bành voi dọc theo bìa rừng khộp của vườn quốc gia, là loại rừng đặc hữu của Tây Nguyên, nay chỉ còn nhiều ở đây, là nơi xứ sở của voi rừng giáp vùng biên giới Cămpuchia. Tại Bản Đôn xanh màu rừng cây bến nước, du khách còn bước chân đi quanh cầu treo lắc lẻo trên sông, rồi ngược dòng đến thác Bảy Nhánh thăm thú các mô hình nhà sàn nguyên bản của người bản địa, có cả âm nhạc cồng chiêng bên dống lửa củi bập bùng nếu khách có nhu cầu lưu lại qua đêm. Xa hơn nữa, cũng chung dòng sông dài, ngược về phía đông gần đầu nguồn dưới chân dãy núi lớn Chư Yang Sin, du khách sẽ thăm hồ Lắk rộng ăn thông nước sông được bao quanh núi non chập chùng bên buôn làng người dân tộc M'Nông R'Lăm của thị trấn Liên Sơn. Ở đó, khách du nam nữ có thể cưỡi voi, đi thuyền độc mộc dạo quanh hồ và thưởng thức loại cá thát lát đặc sản của địa phương... Cả Tây Nguyên có mấy mươi dòng thác trắng, đặc biệt tập trung ở vùng đồi tỉnh Đắk Nông với hơn 6.000 quả đồi lớn nhỏ. Riêng huyện Chư Jut bên sông Serêpôk có 3 dòng thác Trinh Nữ, Dray Sáp và Gia Long kề cạnh nhau, tạo thành cụm thác nổi tiếng, đẹp trong vẻ hùng vĩ mà nên thơ nằm giữa đôi bờ rừng nguyên sinh xanh đầy bóng cây gỗ quí bằng lăng, cẩm xe, giáng hương... Thiên nhiên vô cùng hào phóng đã ưu đãi vùng đất Tây Nguyên nhiều núi, nhiều rừng, nhiều sông suối và nhiều bình nguyên rộng trên cao nguyên phía tây đất nước, quanh năm hai mùa mưa nắng đã làm nên sự sống tốt tươi cho đồng bào các dân tộc bản địa và người Kinh từ các nơi đến lập nghiệp. Bao nhiêu cánh rừng mất đi, bao nhiêu núi đồi bị sụp lở, khó có thể phục hồi lại được, bao giờ rừng xanh lại ngàn cây và sông sâu suối đầy? Những gì thiên nhiên ban cho chưa mất đi, hãy trân trọng giữ lấy, cho rừng xanh xanh mãi, đem lại môi trường sống tốt tươi trong lành.
Mùa xuân này đang đến với Tây Nguyên gợi lòng tôi nhớ, không thể nào quên, những mùa xuân đã qua giữa đất trời xanh lồng lộng, tôi ngồi thuyền thong dong cùng người bạn thân trên sông Đắk Bla, trên sông Pa, cả đoạn sông dài Krông Ana từ bến nước Buôn Trấp êm đềm đến Eo Đờn thơ mộng.Thương sao những kỷ niệm đẹp đã qua mà còn mãi trong lòng mình. Tây Nguyên mùa xuân này đang đến với những gì đẹp đẽ tốt tươi lành lặn còn mãi trong lòng người…



                          Tây Nguyên, cuối năm 2013.

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả ĐÀO MẠNH LONG





Khoảnh khắc giao mùa



Gió rơi
Mẻ tiếng chuông chùa
Vùng vằng
Khoảnh khắc giao mùa
Gãy đôi

Tháng Giêng bên lở bên bồi
Xuân chín mọng
Khỏa bờ môi ướt mềm

Mùa đông vội trốn vào đêm
Để cơn gió lạnh
bên thềm bơ vơ

Vén mành sương thả hững hờ
Vốc hương kỷ niệm
Lòng
Ngơ ngẩn
Lòng…










Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN



 Tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN

NHÌN LẠI MỘT NĂM THƠ


Vậy là năm 2013 đã đi qua, có cảm giác rất chóng vánh. Nhiều điều ta ấp ủ vẫn chưa làm được; vì nhiều lẽ, có lý do chủ quan, có lý do khách quan. Điều quan trọng nhất là chúng ta đã công tâm, dành tất cả tâm huyết vì sự nghiệp chung...
Với người biên tập thơ của Tạp chí Chư Yang Sin cũng vậy. Những khát vọng đặt ra từ đầu năm cho trang thơ của Tạp chí và những gì đã làm được vẫn còn khoảng cách… khá xa. Dĩ nhiên, không vì thế mà buồn. Ta vẫn có quyền vui và không chỉ vui mà còn có quyền tự hào; bởi trong điều kiện kinh phí dành cho Tạp chí của chúng ta “eo hẹp” vào hàng bậc nhất trong cả nước, nhưng Chư Yang Sin, trong đó có phần thơ vẫn tiến bộ so với năm trước, được nhiều bạn bè xa gần có lời chúc tụng; nhiều nhà văn, nhà thơ trung ương, một số cán bộ lãnh đạo các hội chuyên ngành văn học, nghệ thuật trung ương khen ngợi và gửi tác phẩm cộng tác.
Vậy sự tiến bộ của trang thơ trên Chư Yang Sin như thế nào?
Trước tiên cần khẳng định: Tính chuyên nghiệp trong các tác phẩm thơ đã cao hơn, nhiều hơn, đã giảm hẳn những bài thơ ở tầm… câu lạc bộ huyện, xã. Nhiều bài thơ có thi tứ, thi ảnh mới mẻ, cách dùng từ ngữ sáng tạo; viết theo lối thơ truyền thống thì niêm, luật, vần, điệu nhuần nhuyễn; viết theo lối thơ hiện đại thì thể hiện được sự  sâu xa, câu chữ ngỡ dễ dãi, bâng quơ nhưng đầy sức gợi… Có được điều này là nhờ sự “trở lại” của các cây bút trong tỉnh đã khẳng định được mình, nhưng đã có một thời gian khá dài “xa”  Chư Yang Sin, như Lê Vĩnh Tài, Vũ Dy; đồng thời là sự gắn bó mật thiết hơn của các cây bút trước đây đã gắn bó với Tạp chí, năm qua càng gắn bó hơn và thơ đang ngày càng “chắc tay” hơn, như Huệ Nguyên, Tiến Thảo, Quách Thành, Trần Văn Hội, Trần Chi, Vương Văn Bạng, Trần Phố, Lê Thị Minh Nghiệm, Sơn Thúy…; cùng với các “chỗ dựa” trên là việc ban biên tập đã quyết tâm siết chặt hơn khâu chọn bài, lấy chất lượng cao làm trọng, không nể nang, không vì các mối quan hệ riêng tư. Nhờ vậy mà Tạp chí có nhiều hơn những bài thơ, câu thơ tinh tế, để người đọc được cảm nhận nhiều hơn, được ngẫm nghĩ nhiều hơn những cảm xúc mới mẻ, ví như:
Ta đã qua những đêm hoang vu
đến bao giờ ngủ bù cho Hà Nội
ngủ bù cho đêm
nằm tưởng tượng hương hoa sữa
tưởng tượng vị sấu ngâm
tưởng tượng em
đến sáng còn thèm…
(Hà Nội nhớ - Lê Vĩnh Tài)
Đêm đóng vai bóng tối, thế giới đóng vai giấc ngủ, thơ
đóng vai giấc mơ… cho đến khi mọi thứ biến mất…
 (Những ý rời - Lê Vĩnh Tài)  
con lật luống cày ngôn ngữ cằn khô
chẳng thể trồng nổi câu thơ trên mảnh vườn của mẹ
ngày cứ mòn như câu chữ
câm lặng từng nếp nhăn
 (Mòn ngày - Huệ Nguyên)
những con nắng ngoạm đêm
đói từng ngụm gió
giấc mơ chập chờn sũng vạt nắng loang!
                                           (Ngày khê màu mắt – Huệ Nguyên)
Đời đau vì những ba đào
Ba trăm năm… trả lời sao cho đành
Phận người vẫn cứ mong manh
Rửa bao nhiêu lệ cho lành vết thương?
(Ngẫm Kiều - Trần Phố)
                   
Bên cạnh các tác giả nêu trên, năm qua trên Tạp chí cũng xuất hiện một số gương mặt mới, có người còn rất trẻ, có người đã trên 50, nhưng tất cả đều đang sinh sống và làm việc tại Đắk Lắk. Có thể kể tên: H’Xíu H’Môk, Hồ Hồng Lĩnh, Nguyễn Duy Xuân, Nguyễn Quý, Trịnh Vĩnh Phú (TP Buôn Ma Thuột), Tuyết Trinh (Ea Kar), Lê Thành Văn, Huỳnh Bích Loan, Lê Thị Đức (Buôn Hồ), Quảng Minh Tiến (Cư M’gar), Kiều Thành (Krông Pắk) và Nguyễn Văn Thiện lâu nay viết văn xuôi, nhưng trên Tạp chí số gần đây đã “ló ra” một bài thơ lấy được lời khen của nhiều người. Đây là một điều rất đáng mừng, bởi đội ngũ thơ “khá chuyên nghiệp” của chúng ta đang mỏng dần, hầu hết đã vào tuổi thất thập, sức sáng tạo đã không còn “mơn mởn” nữa. Chính nhờ sự đóng góp của những gương mặt mới này mà chúng ta được đọc những câu thơ khá ấn tượng:
…khúc nhạc âm dương ngày cũ
em đánh rơi mấy hạt thanh âm
chiều liêu xiêu la cà buổi gió
em sa sương lội giữa xuân thầm
            (Khúc thơ Xuân – Nguyễn Quý)
Trăng và đêm hôn phối hương huệ hương quỳnh
những đứa con thi ca xông đêm sinh nở                                                                                               
gót son nàng Kiều nhúng nẻo vườn đêm
                                           (Đêm – Hồ Hồng Lĩnh)
Em xoay trái đất
Đi tìm anh giữa tám tỷ người
(Không đề - Tuyết Trinh)
Chăn đơn chỉ đắp nửa chừng
nửa dành hương rẫy, hương rừng đắp cho
(Đêm ở rẫy – Lê Thị Đức)

Ngoài các cây bút thơ là hội viên và không hội viên ở trong tỉnh, mảng thơ trên Tạp chí Chư Yang Sin còn có sự đóng góp tích cực của nhiều cây bút thơ ở các tỉnh bạn. Mỗi số Chư Yang Sin dùng khoảng 12 - 14 bài thơ của các tác giả ngoài tỉnh/ tổng số 25 – 28 bài. Nhờ các tác giả tỉnh bạn góp sức mà trang thơ của chúng ta đa dạng hơn, hay hơn; đồng thời hội viên của chúng ta cũng có điều kiện soi dọi, giao lưu, qua đó từng bước nâng cao trình độ của mình. Các cây bút ngoài tỉnh đóng góp nhiều cho tạp chí Chư Yang Sin là Nguyễn Hưng Hải (Phú Thọ), Hoàng Anh Tuấn (Lao Cai), Ninh Đức Hậu (Ninh Bình), Phạm Thị Ngọc Thanh (Hà Nội), Lâm Bằng (Thanh Hóa)… Các anh chị kể trên là những cây bút thơ có tay nghề khá cao, có nhiều tứ thơ, ý thơ mới, lối viết nhuần nhuyễn, linh hoạt, hoặc hiện đại, có tính sáng tạo cao. Hoàng Anh Tuấn, Ninh Đức Hậu nổi bật với những bài thơ lục bát thấm đẫm hồn quê, nhiều sức gợi; viết theo thể thơ truyền thống nhưng đọc không thấy cũ, vì có nhiều thi ảnh mới, cách nói mới. Ví như: Thiếp ra giặt lụa sông gầy /Vết nhơ trơ mặt, bàn tay nát nhàu (Nguyễn Thị Lộ - Hoàng Anh Tuấn) hoặc Bóng cha đổ xuống bóng chiều/ cuối thu cả gió bao nhiêu lá vàng (Bóng cha – Ninh Đức Hậu). Nguyễn Hưng Hải viết rất nhanh về mọi chủ đề, mọi sự kiện, đáp ứng kịp thời nhu cầu tuyên truyền của các tòa soạn, câu chữ giản dị, đôi lúc thô mộc, nhưng không vì vậy mà dễ dãi, ngược lại, anh luôn có những ý thơ rất mới, có chiều sâu, gợi được cho người đọc nhưng suy tư sau mặt chữ. Ví như: Sạch ngõ con đi, mẹ như tàu lá cọ / quét đến cùn đời trồi cả rễ cây đa (Chân dung Mẹ - Nguyễn Hưng Hải). Phạm Thị Ngọc Thanh vừa tinh tế trong cảm xúc, vừa chải chuốt, mượt mà trong câu chữ: Cỏ tương tư nở nhành thao thức/ những mùa hương xuyên qua lồng ngực/ đốt con tim bằng thương nhớ băng mùa (Mùi hương băng qua thời gian). 
Bên cạnh điều mừng về sự tiến bộ nêu trên, trong năm qua người biên tập thơ của Tạp chí vẫn còn nhiều trăn trở, băn khoăn, cảm thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm, khi chưa “tìm” được nhiều bài thơ viết về những vấn đề thiết thực, gần gũi  của Đắk Lắk, Tây Nguyên thân yêu của chúng ta để in trên Tạp chí. Mặt khác, người biên tập cũng chưa sử dụng được nhiều hơn thơ của một số hội viên, do phải đắn đo, cân nhắc giữa việc nâng cao chất lượng Tạp chí và việc sử dụng thơ của một số hội viên này; và bao giờ thì lý trí và tình cảm của người biên tập cũng phải nghiêng về phía “cái chung”- đó là chất lượng của Tạp chí, chất lượng phục vụ bạn đọc. Với ý thức cầu thị người biên tập vẫn luôn luôn mong nhận được sự góp ý chân thành của các hội viên, bạn thơ trong và ngoài tỉnh bằng những trao đổi thẳng thắn, cụ thể, vì trách nhiệm với Tạp chí - “gương mặt chung” của giới văn nghệ  tỉnh nhà - để bản thân người biên tập tiến bộ hơn và “gương mặt chung” của chúng ta cũng ngày một rạng rỡ hơn.


25.12.2013

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

SỐ XUÂN GIÁP NGỌ - tác giả LÊ VĨNH TÀI

Tác giả LÊ VĨNH TÀI

Thaùng möôøi hai…

Gaõy treân tay moät nhuù coû vöøa leân
öùa nöôùc maét maøu xanh tinh khieát
laù cuoái naêm bay töøng tôø lòch
thaùng ngaøy bay nhö coù nhö khoâng

ngaøy thaùng bay nhö laù phuû ñaày saân
thaùng möôøi hai chöa bao giôø xa theá
nhö caâu thô chöa bao giôø coù theå
laøm ta ñau nhö chính cuoäc ñôøi

thaùng möôøi hai ta thaûng thoát: trôøi ôi

ai ngöôøi cuõ ñaõ thaønh hun huùt…