Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả NGUYỄN THANH TUẤN




NGỌN ĐÈN KHÔNG BAO GIỜ TẮT


Giá trị đích thực của tác phẩm “Tắt đèn” là đã xây dựng được hình tượng người phụ nữ “khỏe khoắn” có khả năng chống chọi với mọi thế lực “bóng đêm” để giữ mãi cho ngọn đèn tâm hồn mình không bao giờ tắt. Đó là “báu vật” có giá trị nhất mà Ngô Tất Tố đã đóng góp vào kho tàng nhân cách con người. Chị là một điển hình cho những người nông dân Việt Nam tiêu biểu nhất. Chị Dậu kế thừa truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong truyện ngắn bằng chữ Nôm, đó là bản chất dịu dàng, cần cù, chịu khó, đẹp, thương yêu, chung thủy với chồng con nhưng phải gánh chịu số phận bạc bẽo. Một con người có tâm hồn đẹp, thanh khiết nhưng bị xã hội phong kiến dập vùi, bạc đãi…
Không phải ngẫu nhiên mà Ngô Tất Tố xây dựng hình ảnh chị Dậu với cái đẹp đầu tiên là sự thanh khiết, trong sáng của đôi mắt. Độc giả cũng bắt đầu tiếp nhận hình ảnh một chị Dậu từ đôi mắt ấy. Đây là cửa sổ tâm hồn là nơi lưu giữ ngọn lửa nhân cách lúc nào cũng rực cháy mạnh mẽ. Tiếp sau mới đến sự tươi tắn của làn môi và sự nuột nà của làn da đen dòn dưới nắng của người phụ nữ hai mươi tư tuổi. Chị đẹp nhưng vẻ đẹp của chị mới đáng thương làm sao. Đáng thương ở chỗ, chị đẹp mà không biết là mình đẹp và cũng chưa bao giờ chị có thời gian và điều kiện để tự nghĩ rằng mình đẹp hay xấu. Chị như một đóa sen hồng hồn nhiên giữa cánh đồng quê đầy cỏ dại. Cái đẹp có hương thơm thanh khiết, có nắng đồng gió nội, có mưa sa bão táp… Một vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc, tươi tắn chứ không phải vẻ đẹp của một bông hoa được vun trồng, chăm bón trong vườn, trong chậu cảnh. Vẻ đẹp của người nông dân lao động, không kiểu cách, không sửa soạn, điểm tô… Chỉ có những người gần gũi, thương yêu, trân trọng người nông dân nghèo khổ trong xã hội phong kiến mới có thể phát hiện ra vẻ đẹp ấy và chỉ cho người đọc. Tuy vậy, vẻ đẹp hình thể bên ngoài mới chỉ là một tiêu biểu cho sự cộng hưởng của vẻ đẹp bên trong tâm hồn của người phụ nữ nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc.
Thương chồng đã ốm yếu lại còn phải chịu đòn roi tra tấn, chị lấy thân mình che chở những trận đòn thay anh. Chị cắn răng chịu đựng nỗi đau cắt ruột khi phải bán đứa con mà mình rứt ruột đẻ ra. Chị biết, rồi đây cái Tý sẽ khổ như thế nào nếu bị bán cho nhà giàu: “Ăn một miếng cơm nhà họ, họ cũng bóc lột, cũng đánh cho lòi cơm ra mà trả cho họ”. Đó chính là nguyên nhân của bi kịch tinh thần khủng khiếp mà chị phải gánh chịu. Càng thương yêu đứa con gái ngoan hiền, tội nghiệp của mình bao nhiêu, chị càng phải bán nó bấy nhiêu ngay sau khi chị mới phát hiện thêm ở nó những bản chất tốt đẹp nhất mà ngày thường chị chưa kịp nhận thấy. Đó là tấm thảm kịch đau thương nhất của người mẹ phải nén nỗi xót xa để bán đứa con mình, đồng thời cũng là màn bi kịch tinh thần cực độ của người con bị bán.
Chị Dậu bị dồn vào hoàn cảnh không có quyền được lựa chọn và chậm trễ. Chị thiết nghĩ phải đặt yếu tố trước mắt và vô cùng khẩn thiết lên hàng đầu là cứu lấy mạng sống cho người chồng yếu đuối, quanh năm bệnh tật của mình. Vì thế, chị bắt buộc phải bán con và nhận lấy trong lòng một nhát dao cắt ngang khúc ruột của mình. Việc chị bán con, cho người đọc thấy rõ bi kịch khủng khiếp mà người nông dân trong xã hội thực dân – nửa phong kiến phải chịu đựng, đồng thời còn thể hiện sự thông minh, nhanh nhẹn của chị Dậu. Trong lúc bế tắc nhất, ngọn đèn trong tâm hồn chị vẫn cháy và lóe lên một tia sáng mạnh mẽ: “Cứu chồng rồi hãy cứu con”. Lúc này, nếu không bán con để cứu chồng thì chồng sẽ chết. Chồng chết thì không bao giờ sống lại được nhưng con bị bán đi rồi thì nhất định sẽ có ngày chuộc lại được. Thế mới thấy chị đúng là người phụ nữ đảm đang, một mình giải quyết mọi công việc gia đình một cách ổn thỏa trong hoàn cảnh éo le nhất.
Chị cũng không phải là người khờ khạo, dễ lừa bịp mà ngược lại rất tinh nhanh, sắc sảo, biểu lộ tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Giữa đình làng – nơi chè chén của bọn “tai to mặt lớn” chị dám vạch mặt, chỉ trán những thủ đoạn bóc lột, đàn áp dã man của bọn cường hào, ác bá vô lương: “Trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó với cả hai gánh khoai mới được hai đồng bảy, tưởng đủ tiền sưu thuế cho chồng tôi, ai dè còn suất sưu của người chết”. Khi chồng chị đang run rẩy húp bát cháo loãng thì bọn lính lệ bất ngờ ập vào đòi trói, đánh. Chị đã quỳ lạy, van xin nhưng chúng vẫn không rủ lòng thương xót. Đã đến lúc “tức nước vỡ bờ”, vì tình yêu dành cho chồng con và lẽ công bằng mà không thể tiếp tục nhịn nhục, chịu đựng thêm được nữa. Ý thức phản kháng tiềm tàng trong con người chị đã bùng lên mạnh mẽ đến mức một mình chị có thể quật ngã hai tên lính lệ nhà Lý Trưởng, hoặc chị đã cự lại rằng: “Việc quan làm ban ngày, ai làm ban đêm”?
Xây dựng hình ảnh Chị Dậu như thế, tác giả và cả người đọc chưa bao nghĩ đây là người phụ nữ chanh chua, cong cớn, lắm điều mà nhằm khẳng định ý thức phản kháng mạnh mẽ, bằng tình yêu thương dành cho chồng con ý thức ấy càng trỗi dậy hơn bao giờ hết. Trong văn học Việt Nam từ trước tới lúc bấy giờ chưa có người phụ nữ nào dám làm việc ấy. Chỉ có chị Dậu mới dám đương đầu với bọn cường hào, ác bá để giành lại sự sống. Tuy vậy, chị vẫn là biểu tượng của người phụ nữ dịu hiền, thương yêu chồng con.
Bằng tài năng, tâm huyết, sự tìm tòi sáng tạo và những bước trưởng thành vượt bậc trong việc sử dụng ngôn ngữ, Ngô Tất Tố đã thành công trong việc khắc họa hình ảnh người phụ nữ nông dân Việt Nam trước năm 1975. Chị Dậu trở thành nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, là người phụ nữ bất hủ trong dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Ngô Tất Tố không bao giờ bi quan, dù cho nhân vật của mình có bị đẩy vào hoàn cảnh hiểm nghèo nhất, ông vẫn tiếp tục bênh vực và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp “Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen”, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đó là khi chị thẳng tay ném cả nắm bạc vào mặt tên quan phụ mẫu dâm đãng hay khi thoát khỏi vòng tay quỷ ám của cụ quan già cốc đế giữa lúc chị đang phải lao đao chạy tiền sưu thuế cho chồng và tung chạy ra đường tối om. Lúc ánh sáng bên ngoài cuộc sống đã tắt hết cũng chính là lúc ánh sáng của ngọn đèn trong tâm hồn chị rực sáng soi cho chị tìm về với sự thanh cao, trong sáng, sự thủy chung, nết na đáng trân trọng.
Văn học Việt Nam đã có nhiều nhân vật vì lý do này hay lý do khác mà sa ngã, mà đi sai đường lạc hướng như Tám Bính trong “Bỉ vỏ” của Nguyên Hồng. Ngô Tất Tố thì khác, ông vẫn bảo vệ nhân vật của mình cho đến cùng. Vì thế, Chị Dậu trở thành nhân vật văn học giàu lòng nhân ái, giàu đức hi sinh, trở thành nhân vật nhân văn nhất của Văn học Việt Nam. Nếu không phải là người thương yêu, trân trọng người nông dân lao động thì chắc chắn rằng Ngô Tất Tố đã không làm được điều kỳ diệu này.
Nhân vật chị Dậu là một điển hình xuất sắc cho nghệ thuật điển hình hóa của Ngô Tất Tố nói riêng và các nhà văn hiện thực phê phán nói chung. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử và thời đại dẫn đến Ngô Tất Tố vẫn rơi vào tình trạng xây dựng nhân vật nhất quán, một chiều và công thức. Tức là đã xây dựng một nhân vật đẹp thì đẹp từ trong ra ngoài, ngược lại đã xấu là xấu từ ngoài vào trong. Nếu vượt qua được hạn chế này, nhân vật sẽ trở nên sinh động hơn, nhân văn hơn và gần gũi với đời sống con người hơn… Hạn chế này đã được ghi nhận và nhiệm vụ cách tân nó được đặt lên vai những nhà văn hiện thực phê phán lớp sau. Tiêu biểu nhất trong số ấy chính là Nam Cao - người đã kế thừa, cách tân và phát huy và thành công rực rỡ.

Vượt qua những hạn chế nêu trên, ngay từ khi mới ra đời, “Tắt đèn” đã được nhà văn Vũ Trọng Phụng đánh giá là một “thiên tiểu thuyết” có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn kiệt tác “tùng lai chưa từng có”. Ngoài những vẻ đẹp bên ngoài thì nhân cách chị Dậu nói riêng và giá trị của “Tắt đèn” nói chung mãi mãi là ngọn đèn không bao giờ tắt dẫu trải qua giông bão của mọi thời đại.

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả BÙI MINH VŨ




Bao dung


Ta từng mơ
và nhiều hơn lần nữa
những bình yên đêm gió thổi em về
đừng dừng lại phía sau bờ vực lửa
ngậm bồ hòn
nhai gió bấc tái tê

Ta phả một hơi dài xanh thẳm
dặm em đi nương bóng cuộc bần cùng
mơ bữa cơm chiều tiếng gâu yêu thích
bàn tay em khàng khẽ bao dung

Ta từng mơ có một thời gian khác
ước chuyển xoay ngàn bước cũng quay về
bụi bặm cũng yêu ngày ta hát
khúc dõi theo em khóc cuối đường quê

Góc nhà cũ chữ em ghi nhòe nhoẹt
ta từng mơ một đứa trẻ đến trường
ngày cũng hết giờ đây ta đối mặt
cháy bỏng mơ mờ mở cửa thiên đường.

Quảng Ngãi, 4.2014


Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả TIẾN THẢO




SÓNG NƯỚC BIỂN ĐÔNG

Truyện lịch sử


Sau chuyến đi Hợp Chủng Quốc lần thứ hai trở về, Bùi Viện cảm thấy cuộc đời mình như đang dẫm chân tại chỗ. Nhiều đêm ông thức trắng bên ngọn đèn dầu lạc với những câu thơ mang đầy tâm sự ngang trái. Ông nhớ cách đây đã mười hai năm đậu tú tài cùng khóa với đứa em ruột, nhưng oái oăm là ba năm sau đó, người em đậu cử nhân, còn mình thì rớt để rồi trở thành Giám sinh. Thấm thía biết chừng nào câu nói “Học tài thi phận”. Ông lại nhớ đến người cha già còm cõi nơi quê nhà, người mẹ một nắng hai sương, ngã bệnh rồi qua đời lúc ông còn lênh đênh trên biển. Ông cũng không quên tấm lòng ưu ái của nhà vua, những câu dặn dò đầy trách nhiệm trước lúc ra đi và ly rượu do chính tay nhà vua rót để ban cho ông. Cảm khái trước ơn vua, lộc nước, lúc đó ông đã ứng khẩu đọc bài thơ dài mà trong đó có hai câu như một bức chân dung tự họa, đến nay vẫn thuộc nằm lòng:
… Cương thường thân gánh vác
Sương gió bước chơi vơi…
Ông ngước mắt nhìn lên giàn bầu nậm. Dây nào cũng mập mạnh với những chiếc lá xanh non tràn đầy sức sống. Có nách đã đậu trái, có nách chỉ mới ra hoa. Ông lại như vừa nhìn ra một triết lý sống dâng hiến cho cuộc đời này qua cây cỏ.
Ông đang sống những ngày buồn tẻ thì bỗng dưng nhận được chiếu chỉ của nhà vua triệu vào kinh. Ông thầm nghĩ, chắc cũng như những lần trước, lần này có lẽ lại phải lên đường đi xa, lênh đênh chân trời, góc bể.
Một buổi sáng, nắng đang dần lên sau những ngày mưa bụi. Cả hoàng thành như ấm lại. Cung điện, đền đài thoát ra khỏi cái vẻ trầm mặc dưới những hàng cây um bóng lá, bên những khóm hải đường, những khóm trúc đào với những chùm hoa rực rỡ, lay động trước gió xuân.
Vua Tự Đức không mặc hoàng bào như những lần thiết triều ở điện Thái Hòa. Nhà vua chỉ mặc bộ lụa vàng trông thật giản dị và gần gũi trong lúc làm việc ở điện Cần Chánh. Nhà vua ban rượu cho Bùi Viện rồi ôn tồn nói:
- Khanh đừng lấy làm phiền muộn về hai chuyến đi ra nước ngoài của mấy năm trước không mang lại kết quả. Các nước lớn người ta suy tính thiệt hơn ghê lắm. Khanh cũng chỉ vì ta mà ra sức tìm cách bảo vệ giang sơn gấm vóc do các Tiên đế đã dày công gầy dựng. Nay ta muốn bàn với khanh một vấn đề quan trọng, có liên quan đến vận mệnh đất nước, trong tình hình ngoại xâm, nội thù hiện nay.
- Bẩm! Hạ thần xin phụng mệnh.
- Đất nước ta, từ Bắc chí Nam có mấy ngàn dặm biển. Đó không những là đầu mối giao thông của đường thủy trong nước và ngoài nước mà còn là một nguồn lợi vô tận, có thể nuôi sống con dân đến muôn đời sau.
Từ khi lập quốc đến nay, thời nào cũng coi trọng mặt biển. Các bậc Tiên đế của Trẫm đã từng lập nên Đội Hoàng Sa để đo đạc, vẽ bản đồ, khai thác và bảo vệ các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các hoàng đế về sau đều tiếp tục mở rộng sự hoạt động của Đội Hoàng Sa, đều có xây thêm các trấn hải đài để tăng cường canh phòng mặt biển.
Trẫm chưa nguôi cơn giận đối với bọn Phú Lang Sa, dám đem tàu chiến đến bắn phá cửa biển Đà Nẵng, chiếm đất phía Nam, đánh thành Hà Nội, thì gần đây lại xảy ra sự việc bọn Tàu Ô đến cướp phá ở bên ngoài cửa biển Thuận An.
- Bẩm! Hoàng thượng có thể nói rõ hơn về việc này.
- Nguyên hôm đó có đoàn thuyền của Nha Kinh lược sứ Bắc thành chở binh lính và một số vật dụng vào Huế đổi phiên thì bị bọn Tàu Ô chận đường cướp phá, gây không biết bao nhiêu thiệt hại về người và của.
Trước đó, Trẫm đã nghiêm trừng các viên trấn thủ Thuận An cùng các viên phòng luyện Hải Phòng sứ do sơ suất trong việc canh gác để cho thuyền của bọn Phú Lang Sa đến xin giao hảo, chưa có phép của triều đình lại cho đi thẳng vào Thuận An mà các viên Tấn thủ, Hải Phòng sứ không can ngăn. Trong việc này các viên Chánh phó sứ Trần Tiễn Thành, Nguyễn Thịnh đã không biết nghiêm sức các thuộc hạ nên cũng bị giáng hai cấp, lưu, để làm gương.
Trước tình hình đó, Trẫm muốn khanh giúp ta kế sách ổn định mặt biển, Khanh có ý gì mới cứ đề xuất, kế sách càng cụ thể càng tốt.
Bùi Viện đã từng đối diện với nhà vua nhiều lần nên vẫn giữ được vẻ ung dung tự tại, chăm chú nghe từng sự việc. Khi nhà vua đề cập đến chuyện bọn Tàu Ô cướp phá ở ngoài cửa bể Thuận An, ông chợt nhớ đến bài thơ do mình sáng tác nhân sự việc này. Lúc đầu, ông định đọc cho nhà vua nghe nhưng rồi lại thôi vì có nhiều câu châm biếm, đụng chạm đến quan hệ của triều đình: “Tàu Ô hai chiếc thẳng dong/ Ào ào súng nổ rồi cùng hét vang/ Tung hoành chạy dọc, chạy ngang/ Quan quân chẳng thấy, thấy toàn Tàu Ô… Cũng xưng là đấng làm tôi/ Cớ sao chẳng biết hổ ngươi trong mình…
Sau một thoáng nghĩ ngợi miên man, ông sực tỉnh và bẩm báo:
- Bẩm Hoàng thượng, việc giữ gìn an ninh mặt biển là rất quan trọng. Từ xa xưa cũng như mới đây bọn xâm lược đã nhiều lần tấn công nước ta bằng mặt biển.
Trong cả hai lần xuất dương, hạ thần thấy cảng biển nào cũng thế dù tàu bè to lớn, tấp nập, mua bán sầm uất, nhưng họ kiểm tra, kiểm soát rất chặt chẽ. Nước ta đang có chiến tranh, những nơi trọng yếu cần phải được canh phòng cẩn mật với các phương tiện tàu to, súng lớn.
- Ngoài khanh ra, Trẫm chưa thấy ai thích hợp với công việc này. Mấy năm trước Trẫm đã rõ chuyện khanh cùng với Doanh điền sứ Nam Định mở mang bến Ninh Hải. Sau này khi bến đó trở thành một cảng biển lớn, giao thương thuận tiện với các nước thì các khanh là những người có công lớn, tên tuổi gắn liền với sự nghiệp phát triển mặt biển. Khanh hãy cố gắng để chu tất công việc hệ trọng này.
Biết không thể từ chối, Bùi Viện xin phụng mệnh rồi cáo lui. Ông rời điện Cần Chánh, đi thong thả về phía cửa Hiển Nhơn. Những lối đi nhỏ lát gạch bát tràng nằm im mát dưới những bóng cây cổ thụ, gió thổi lên từ phía sông Ngự Hà thơm ngát hương ngâu, hương bưởi. Trước phong cảnh hữu tình khiến ông cảm thấy thoải mái, dễ chịu sau những giờ phút căng thẳng phải giữ lễ nghi ở chốn triều đình.
Ông lại chợt nhớ đến lần gặp gỡ trước, nhà vua cũng đã có lời khen ngợi đối với cá nhân ông: “Trẫm với ngươi chưa có ân nghĩa gì mà người đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi khó nhọc, quỷ thần chắc ứng cho”. Nghĩ đến đó, lòng ông lại rộn ràng, phấn chấn trước công việc được giao. Đây là cơ hội tốt của đời ông để thi thố tài năng, thỏa chí tang bồng hồ thỉ, góp chút công sức cho dân, cho nước, mặc dầu biết rằng con đường đi tới đầy cả gian nan thử thách, sóng gió nghìn trùng.
Khi ra khỏi cửa Hiển Nhơn, mặt trời đã trên đỉnh đầu, ông lừng khừng giây lát rồi quyết định ghé lại trường Quốc Tử Giám để tìm thăm quan Tế tửu, người mà bao giờ ông cũng xem như cha mẹ mình với lòng biết ơn và quí trọng.
Một điều rất thú vị là trong lúc ông đang quan tâm đến biển đông thì tại nhà quan Tế tửu ông đã được đọc và luận bàn về các sách của người xưa như Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết từ năm 1776, lúc đó ông giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hóa, Triều chính yếu thực lục viết dưới thời Gia Long và Minh Mạng. Những tác phẩm này đều có đề cập đến đội Hoàng Sa và việc khai thác, bảo vệ các quần đảo ở biển Đông. Nhờ đó mà ông hiểu tường tận hơn về nội dung các hoạt động như  Đội Hoàng Sa có bảy mươi suất đinh, mỗi năm tháng ba đã tổ chức ra đi và tháng tám mới trở về, thu lượm không biết bao nhiêu là hải vật như yến sào, đồi mồi, thiếc và cả đồng khí, vàng bạc do thuyền của các nước khác bị đắm trôi dạt vào…
Trong cuộc hành trình dài ngày, ông đã có dịp ghé lại nhiều cửa biển, ăn ở trên một số đảo, nhưng nơi đã gây nhiều ấn tượng với ông là đảo Lý Sơn khiến ông dừng chân ở đây cả tuần lễ để vừa sinh hoạt, vừa tìm hiểu đời sống và văn hóa của cụm đảo này.
Đảo Lý Sơn còn có cái tên dân dã là Cù Lao Ré. Có ra đến đây ông mới hiểu được vì sao người dân lại thích gọi cái tên dân dã này. Trên đảo mọc rất nhiều cây ré, thân mềm, lá giống lá nghệ vỏ dùng để làm dây buộc đồ rất bền. Qua thời gian sử dụng nó đã trở thành hàng hóa, mua bán trao đổi với các thương thuyền của các xứ mỗi lần ghé qua đây.
Thật ra đảo Lý sơn chỉ cách bờ có sáu mươi lăm dặm. Lúc ghe của ông cập bến thì trời vừa hửng sáng, dân chài vội vã chuyển cá lên bờ, sau một đêm ra khơi đánh bắt. Vùng biển này cá trích rất nhiều. Người ta kể, vào khoảng đầu mùa đông hằng năm cá trích bơi vào trắng như phao cả mặt biển, nhiều nhất là ở bến Đình, bến Ngoài. Bà con ngư dân dùng mọi phương tiện xúc về bán.
Ông dành thời gian ghé lại nhà một lão ngư. Tuổi cao, sức yếu không đi biển được nữa, nhà lại sát chân núi cả ngày vắng vẻ, nay có khách đến nên chủ nhà rất vui, lại có chai rượu mới được đứa cháu gái ở Quảng Ngãi gởi ra. Hai người nâng chén rồi đàm đạo:
- Gia đình cụ sống ở đây đã lâu chưa? Bùi Viện hỏi.
- Nói chung, dân trên đảo làm ăn sinh sống ở đây đã lâu, kể ra cả mấy trăm năm. Nghe người này, người kia nói có từ thời nhà Hồ, nhà Lê gì đó. Còn gia đình tôi ra đây từ đời ông cố.
- Ở đây yên bình quá! Nếu không phải mùa gió bão thì trăng thanh, gió mát, biển cả mênh mông, thật thú vị.
- Bác nói rất đúng. Đẹp lắm, bình yên lắm. Ai mới ra lần đầu, được ngắm phong cảnh, được ăn con  tôm, con cá mới bắt lên thì thật là thú vị. Có nhiều người vào ra một vài lần, rồi đưa cả vợ con ra ở đây.
- Ngoài chuyện sinh sống làm ăn, còn chuyện gì nữa?
- Nhiều chuyện lắm. Sóng to gió lớn vẫn chưa sợ, sợ nhất là bọn cướp biển. Ông Nguyễn Văn Tuất là người gắn liền với huyền thoại dân đảo chống bọn Tàu Ô, cướp phá, xâm lược, cũng mới xảy ra thôi. Chuyện nàng Roi cũng là chuyện một người con gái đầy nhan sắc, tham gia chống cướp rồi hy sinh trên đảo. Dân chúng vô cùng thương tiếc cả hai người.
Không ngờ chuyến đi kéo dài cả mấy tháng làm cho sức khỏe của ông sút kém một cách rõ rệt. Khi trở về nhà ông suy nghĩ nhiều điều. Việc đi lại và buôn bán trên biển gặp nhiều khó khăn nên không thể phát triển được. Một phần do thuyền bè của ta nhỏ, sản vật trao đổi chủ yếu là lúa gạo, khoai sắn, một phần thì bị bọn Tàu Ô chận đường cướp thuyền. Bởi vậy, điều cần thiết lúc này là phải canh tân đất nước lập đội hải quân hùng mạnh để giữ gìn an ninh, trật tự ở biển Đông nhằm bảo vệ thương thuyền và ngư dân, đồng thời bảo vệ biên cương biển đảo của Tổ quốc.
Bên ngọn đèn khuya, ông ngồi viết bản điều trần cho nhà vua với những kế sách rất cụ thể. Ông đề nghị lập một thủy đội với một ngàn lính tuyển từ các nơi, gồm những người đã quen với biển cả kể cả bọn cướp biển qui hàng. Ông sẵn sàng nhận chức “Tuần dương quân” để huấn luyện cho đội thủy quân.
Bản điều trần đầy tâm huyết được dâng lên, nhà vua đọc rồi châu phê: “Nói lớn mà không làm được là có tội”. Ông thất vọng, buồn rầu, ra về một cách lặng lẽ. Bao nhiêu tâm tư tình cảm tan như mây khói. Ôi! Trước nạn nước, một chút tâm huyết gởi vào biển Đông, chỉ còn là những bọt sóng giữa đêm khuya vỗ mạn thuyền.
Nhưng may thay, ngày hôm sau nhà vua lại triệu vào và sửa lại lời phê: “Người nên tự cáng đáng lấy việc này”.
Ông phấn chấn trở về để bắt tay vào việc. Với chức vụ mới là “Tuần tải nha chánh quản đốc” ông quyết định thành lập đội “Tuần dương quân” gồm hai đoàn là “Thanh đoàn” và “Trung dũng đoàn”. Một đoàn mặc áo xanh, đội mũ vải, là bọn giặc biển qui hàng; một đoàn mặc áo nẹp đỏ, đội nón lá, dân của các làng chài, tất cả đều đã quen với sóng nước. Ông xây dựng “Tuần dương quân” trên quan điểm: “Triều đình và nhân dân cùng gánh vác”, những kẻ giàu có có thể bỏ tiền bạc ra rồi mộ quân lập đội, chỉ cần lập danh sách báo cáo và chấp hành mọi quy định của Triều đình.
Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, đội Tuần dương của ông đã có hai ngàn quân với hai trăm chiến thuyền, đúng là một đội hải quân hùng mạnh lúc bấy giờ. Mạnh không chỉ quân đông, thuyền nhiều mà dưới dự chỉ huy của ông, quân lệnh rất nghiêm. Nhà vua và một số quan lại thức thời ở Triều đình đã dành nhiều cảm tình trước sự thành công bước đầu của ông.
Một lần nhà vua xa giá về Trấn hải đài để tham dự lễ duyệt binh ở cửa bể Thuận An, trước mặt Chánh sứ Trần Tiễn Thành, nhà vua đã khen Bùi Viện:
- Trẫm không ngờ đội “Tuần dương quân” do khanh vận động thành lập và chỉ huy lại đông đảo và nghiêm lệnh như thế này. Thời gian gần đây, biển Đông đã yên ổn nhiều, ngư dân và thương lái được yên ổn làm ăn. Trẫm rất là vui mừng.
Bùi Viện nghe nhà vua nói rất là cảm động và mạnh dạn bày tỏ.
- Bẩm Hoàng thượng, từ xưa các vị Tiên đế rất quan tâm đến mặt biển. Không những thành lập và nuôi dưỡng Đđội Hoàng Sa để khai thác và giữ yên vùng biển đảo xa xôi, mà còn là việc khẳng định chủ quyền của đất nước ở biển Đông. Thế Tổ đã từng lập căn cứ ở trên biển để chống với Tây Sơn, Thái Tổ đã cho khắc biển Đông lên Cửu đỉnh, giờ phút này Hoàng thượng cũng đang đứng ở cửa bể Thuận An. Biển, thật là nhịp tim của lịch sử đất nước. Việc làm của hạ thần, chưa có gì đáng nói. Đó là chỉ là tấc lòng, hạ thần muốn gởi đến sóng nước biển Đông mà thôi!












Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả LÊ VĨNH TÀI




Bài thơ, có cái gì long lanh
như vết đốt…


của con muỗi trong đêm kỳ diệu
màu sắc của hai cánh
vẫy, đôi mắt lấp lánh

núi
rung chuông
như nhà thờ
gió lạnh
trên gian hàng phía xa
hội chợ giá rẻ
bán những tiếng chuông màu trắng

ôi
bài thơ
ánh sáng trong chiếc áo lạnh
mùa đông.








Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả HỒNG CHIẾN




CHUỘT VÀ SÓC

Truyện ngắn


Bầu trời đêm sâu thăm thẳm, ai đã treo lên đó những vì sao bé tẹo cứ nhấp nha nhấp nháy hoài. Hàng cây nơi sân trường đang ngủ, thỉnh thoảng mơ màng đưa các cụm lá khe khẽ đu đưa theo làn gió. Không gian như rộng hơn lên vì vắng bặt tiếng ca của nhạc sĩ mùa hè Ve Sầu; chắc suốt ngày lao động cật lực, giờ là lúc anh ta đi ngủ để sáng mai kịp thức dậy cùng mặt trời và ca tiếp bản nhạc vui vẻ mùa hè. Nhưng không gian hình như lại xuất hiện một ca sĩ khác, lúc đầu còn nho nhỏ, sau lớn dần, lớn dần vì được rất nhiều giọng ca cùng đồng thanh hòa nhịp - bản nhạc đêm của họ hàng Dế bắt đầu.
Chị em nhà Chuột dắt nhau thò đầu khỏi miệng hang, đảo mắt nhìn ngó xung quang một vòng mới dám rón rén bước ra. Chuột chị chạy trước, chuột em chạy sau, vừa chạy chúng vừa tranh thủ sục cái mõm dài ngoẵng vào bất cứ cái gì thấy trên đường. Đến bên gốc cây kơ nia, chuột em nói:
- Chị ơi khi chiều em thấy mấy anh em nhà Sóc ngồi ăn hạt kơ nia ngon lành lắm, ta lên đó lấy mấy quả ăn nhé?
- Sao em biết Sóc cất quả cây ở đây?
- Khi chị ngủ, em thức dậy ra cửa thấy con người mang nhiều hạt đến đổ vào gốc cây và nhặt những quả Sóc ăn rồi, mang đi nơi khác. Ta lên ăn thử nhé!
- Họ hàng nhà mình có ăn quả kơ nia được đâu, chúng cứng lắm.
- Tại chúng ta chưa biết cách ăn thôi, em thấy nhà Sóc ăn rồi.
Hai chị em chuột leo lên bồn xây quanh gốc cây kơ nia, chúng kêu lên thích thú: Chích, chích, chích...! Chuột chị vồ ngay một quả há mồm thật to, chìa chiếc răng cửa vừa dài vừa nhọn táp một cái rõ mạnh vào giữa hạt. “Cốp!” Tiếng răng va vào hạt cây làm chuột chị ê răng, buốt đầu đau đến tận óc. Chuột em thấy thế bò lăn ra cười. Chuột chị nổi cáu:
- Cười cái gì, đã bảo không ăn được còn nhõng nhẽo đòi ăn, giờ thì ăn đi.
- Chị ơi, không phải ăn như chị đâu, lúc chiều em thấy bọn Sóc ăn như thế này cơ: Dùng hai chân trước ôm lấy hạt, ngồi lên hai chân sau, đuôi chống xuống đất giống như cái kiềng ba chân như thế mới vững; thế này này.
       Chuột em vừa nói vừa làm mẫu cho chị xem tư thế ngồi, hai chân trước cũng ôm lấy hạt kơ nia quay quay.
- Em làm gì mà quay hạt nhiều như thế?
- Phải tìm cái đầu nào nhỏ hơn mới cắn được, còn chị cắn ngang có mà... gãy răng. Xem đây!
Nói dứt lời, chuột em gậm một miếng rõ to rồi kéo hạt ra. Nhưng oái oăm, quả cây kơ nia phía đầu hạt hình như có quá nhiều xơ, các sợi nho nhỏ mắc chặt vào răng không rút ra được, thành ra quả dính chặt vào mồm. Thấy thế chuột chị  lăn ra cười, mặc chú em loay hoay mãi vẫn không sao gỡ ra được. Chuột em chổng bốn chân lên trời ra sức dứt mãi không ra, Chuột chị mới lại gỡ giùm, miệng còn lẩm bẩm: 
- Họ nhà chúng mình chứ có phải là Sóc đâu mà đòi học theo!
- Chị xem, chị em mình có khác gì họ hàng nhà Sóc đâu, thế mà con người chăm chút, hái cả qủa cho bọn chúng ăn; còn họ hàng nhà ta thì bị ghét cay ghét đắng. Ông trời thật bất công.
- Các cháu nói vậy là sai rồi!
Cây Kơ nia khẽ lắc lư mấy chiếc lá đầu cành trả lời chị em Chuột.
- Bác nói sao cơ ạ, chúng cháu cũng giống họ hàng nhà Sóc lắm chứ, này nhé: Mõm cũng dài, tai hơi tròn và bộ răng giống nhau như được đúc từ một khuôn ra, chân và đuôi cũng chẳng có gì khác nhau.
Chuột em nhanh nhảu trả lời.
- Mới nhìn qua thì có hơi giống nhau thật, nhưng nhìn kỹ lại khác nhau nhiều lắm. Lông của chuột chỉ có một màu xám phù hợp với màn đêm; còn nhà Sóc lại có bộ lông nâu vàng, điểm thêm những sọc vàng, trắng, xinh xắn. Khi di chuyển đuôi Sóc bao giờ cũng dựng lên như ngọn cờ, các lông xù ra to gần bằng thân, báo hiệu cho bạn bè từ xa đã nhận ra nhau; còn nhà Chuột các cháu dù có đi hay chạy lúc nào cũng kéo lê cái đuôi trần trụi trên mặt đất.
- Thế ra con người chỉ vì bộ lông mà yêu Sóc và ghét Chuột, thật là vô lý. Chuột chị tức tối chen vào.
- Không hẳn như vậy đâu, Sóc thân quen với người vì sáng ra con người thức giấc dậy đón bình minh thì nhà Sóc cũng dậy làm việc của mình; khi ông mặt trời đi ngủ, con người lục tục kéo nhau về nhà, cũng là lúc Sóc đi ngủ. Còn họ hàng nhà cháu lại cứ chờ đêm tối mới rủ nhau ra quấy phá. Gặp cái gì cắn cái ấy, ăn trộm lương thực của người rồi lại cắn bất cứ thứ gì tìm được từ sách vở, đến áo quần, giày dép... Vậy nên con người không căm ghét mới lạ chứ!
 - Vậy làm sao để con người yêu Chuột như Sóc ạ!
- Dễ thôi, họ hàng nhà Chuột phải bỏ thói quen xấu: Ngủ ngày thức đêm, không ăn trộm và cắn phá đồ của người thì chắc chắn con người sẽ thương thôi.
- Ôi, không thể thế được đâu, Chuột không thể làm như vậy được đâu bác ơi!
- Nếu không chịu sửa thói quen xấu thì làm sao có thể mong con người yêu mến được.
Chít, chít, chit...! Hai chị em Chuột đồng thanh kêu lên rồi vội vã chạy một mạch về hang không dám quay đầu lại, chắc chúng xấu hổ quá.






Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả NGUYỄN THÁNH NGÃ



Điệu Valse cho mùa hạ

Mặt hồ
và bầy le le bay đi
chỉ còn chiếc lá cuối xuân
đang hỏi gió
cách rơi chậm cho điệu Valse lướt êm…

niềm hy vọng mùa hè
bức bối mặt trời rót lửa
anh yêu em bằng niềm hy vọng lá

và điệu Valse lướt trên
nỗi đắng đót dại khờ
bờ môi khô đắng giọt cà-phê @
rơi vào đáy ly hoang

đôi mắt hoang sơ em hát
lời hát về mặt hồ
không sóng
chỉ là mặt hồ chết!

anh và em
hóa thành chiếc lá
cho khúc Valse lướt trên
nông sâu lòng nhau
vũ điệu gầy và cung phím loang
trầm…
gió có thể xoay xoay
ngón tay em mùa hạnh phúc đã tuột
trên cuống lá này
ngón chân bầy le le lướt trên
niềm cam phận

Valse vẫn nồng
và mưa nồng

có phải?

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

SỐ 262 - tác giả H BIA PLIÊÔ




CHỈ LÀ…
Tản văn



Đêm qua, à không, gần sáng nay, trong giấc ngủ chập chờn, em mơ thấy anh. Ta sánh bước bên nhau trên con đường đất đỏ ghập ghềnh đá, đất gồ ghề. Con đường đang được thi công. Anh bước đi bên em, tay anh nắm chặt tay em, đoạn đường xấu và khó đi vô cùng, chúng ta lần mò từng bước trên con đường ấy qua một quãng thật dài. Em lặng lẽ bước đi theo anh, cảm thấy an toàn trong vòng tay anh, vòng tay ấy rắn chắc, khỏe mạnh và vững chãi. Trong giấc mơ chập chờn, em cảm thấy mình nhỏ bé nép bên anh, được anh che chở, được anh bảo vệ. Qua hết đoạn đường ấy, anh buông tay em, bảo em hãy đứng yên đó, còn anh thì quay lại, hình như để lấy chiếc xe mình đã bỏ lại thì phải, em không nhớ rõ lắm đoạn sau đó thế nào. Giấc mơ chòng chành, mờ ảo cuốn lấy em. Bỗng em giật mình, đồng hồ đã chỉ đến 6 giờ kém 15.
Trong giấc mơ của em, khuôn mặt anh hiện ra rõ mồn một, rõ ràng như lúc mình bên nhau chiều nao. Rõ ràng như lúc anh ôm chặt em và đặt lên đôi môi em nụ hôn gấp gáp đắm đuối, rõ ràng như lúc anh mân mê đôi bàn tay gầy gầy xương xương của em và đặt lên đó nụ hôn mềm như gió thoảng, rõ ràng như khi mình ngồi tựa vai nhau ngắm hoàng hôn lười nhác buông mình cuối chân trời. Mặt trời khi ấy chùng như nuối tiếc điều gì đó mà chưa muốn lặn, nó cứ chầm chậm buông xuống, thu dần những tia nắng cuối cùng le lói trong ánh chiều tà…
Em không rõ tâm trí mình lúc này ra sao nữa, em không chắc và không lí giải được điều mình đang làm là đúng hay không nữa. Lý trí em bị sao rồi anh ạ. Chỉ là, hình như em bắt đầu yêu anh nhiều hơn em tưởng, em nhớ anh nhiều hơn em nghĩ. Chỉ là, trong một khoảnh khắc nào đấy, à không, trong nhiều khoảnh khắc nào đấy, hình ảnh anh đã ghim vào tim em mất rồi. Em không biết từ khi nào, anh đã đột nhập vào trái tim em và ở yên trong đấy không chịu rời đi. Có thật là em đang yêu không anh? Em vẫn cứ sợ, mơ hồ sợ một điều gì đó. Mình quay lại với nhau thật không? Sự quay lại này là nghiêm túc? Khi xưa ta chia tay vì những quẩn quanh con trẻ và vụng dại, liệu bây giờ cả hai ta đã đủ khôn lớn hơn chưa? Cảm xúc là thứ khó lý giải, khó mà định ranh giới. Vì vậy em thấy sợ. Không phải em không có niềm tin, chỉ là, niềm tin của em chưa đủ lớn. Chẳng phải anh và em, mỗi chúng ta đều đang cần thêm chút thời gian sao? Anh cần thời gian để quên người ấy, người mà anh nói rằng chỉ yêu bằng lý trí chứ không phải con tim. Còn em, em cũng cần thời gian để rời xa và quên đi người đã cùng em gắn bó hơn 3 năm trời, người đã cùng em những khi khó khăn, người giúp em quên anh, rời xa anh khi ấy. Người ấy với em, đã có lúc em ngỡ rằng mình yêu. Có lẽ người ấy yêu em, em cảm thấy điều đó. Nhưng con tim và lí trí đỏng đảnh của em có lúc tưởng như đã rung động xao xuyến vì người ấy, giờ đã không còn cảm giác nữa. Người ấy không còn liên lạc với em, không còn nhắn tin gọi điện cho em, không còn quan tâm hỏi han em mỗi ngày. Dễ hiểu thôi, cách cư xử gần đây của em với người ấy đã khác nhiều. Em không còn hớn hở khi nhận điện thoại của người ấy, không còn nhí nhảnh khi nói chuyện cùng người ấy. Em trả lời nhát gừng những câu hỏi của người ấy, khó chịu với những lời hỏi han của người ấy. Em tự tạo khoảng cách, cáu gắt, thờ ơ với người ấy. Nhưng em chưa đủ can đảm để nói với người ấy hãy ngừng quan tâm em, đừng nhớ đến em và đừng nghĩ về em. Dù đã chia xa nhưng em vẫn chưa cắt ra khỏi người ấy một cách chính thức, em đã sẵn sàng buông tay nhưng lại dùng dằng chưa chịu mở lời.
Thực ra, không dễ để rời xa những gì đã gắn bó với mình trong một thời gian dài đúng không anh. Em và anh chia tay, ta xa nhau. Người ấy bên cạnh em, chia sẻ với em, âm thầm lặng lẽ. Người ấy yêu thương em, tôn trọng em, trân trọng em, lo lắng cho em, làm mọi thứ vì em, thậm chí người ấy còn thay đổi bản thân vì em. Con người bên nhau không có tình thì cũng có nghĩa, huống chi, cảm xúc đỏng đảnh của em mưa nắng dễ phai màu. Bởi thế, đâu phải nói dứt là dứt được, nói xa là xa được ngay đâu. Anh biết không, khi mới chia xa, em ra đi khỏi thành phố nơi người ấy đang sống trong hỗn độn những cảm xúc và giận hờn, em đã khóc ngon lành trong điện thoại với người ấy, em nói rằng em nhớ người ấy. Lúc đó em tủi thân nhiều lắm, đau lòng nhiều lắm, em chỉ ước có người ấy ở bên, người ấy sẽ dịu dàng vỗ về, dỗ dành em, người ấy sẽ an ủi em, vỗ vai em, nhẹ nhàng ôm em vào lòng và nói rằng mọi thứ sẽ ổn. Người ấy hiểu em, lo lắng cho em, biết em cần gì ngay lúc ấy… Nhưng với em mà nói, phải chăng em là người dễ thay lòng? Sau một thời gian xa nhau, à không, xa người ấy, em nghiệm ra cảm xúc của mình. Dần dần, em không còn mong nhớ người ấy, không còn khao khát được gặp lại người ấy, được cùng người ấy chu du trên những hành trình. Có thể, người ấy sẽ hận em như anh đã từng, hoặc từ từ lãng quên em và tìm thấy người yêu mới – một người con gái khác tốt hơn em, hay người ấy sẽ mãi giữ em trong tim mình. Thật ra với tính cách của người ấy, khả năng thứ 3 sẽ dễ xảy ra nhất. Đó là điều em có thể hiểu và nghĩ tới nhất sau thời gian gắn bó bên nhau lâu đến vậy. Từ khi quen nhau đến tận bây giờ, người ấy chưa từng mở lời là có tình cảm gì với em. Mọi thứ đều chỉ dừng lại ở sự quan tâm, chăm sóc, lo lắng trong âm thầm. Người ấy bên em khi em buồn, lúc em vui, khi em đau và cả những khoảnh khắc em cảm thấy hạnh phúc. Người ấy bên em đơn giản như một người bạn, một người anh trai vậy. Nhưng, những hành động và cách thể hiện của người ấy, em biết, đó không đơn thuần chỉ là giống như dành cho một người bạn hay một người em gái. Và bây giờ khi chia xa, mọi thứ, chính vì không có bắt đầu rõ ràng nên cũng không thể tạo ra một kết thúc rõ ràng. Em không muốn làm người ấy tổn thương thêm nữa, không muốn người ấy mãi âm thầm lặng lẽ bên đời em thêm nữa, bởi với em cảm xúc với người ấy cũng chỉ dừng lại ở đó và không thể đi xa hơn. Nhưng em biết phải nói sao đây, em không biết phải mở lời sao cả, mọi thứ em có thể làm chỉ đơn giản là cố tình đẩy người ấy xa dần khỏi em. Người ấy hiểu em, liệu có hiểu được những hành động đó của em? Có phải vì hiểu được nên gần đây người ấy cũng đang có những biểu hiện minh chứng cho điều đó?
Anh đừng ghen nhé (thực ra anh cũng đâu đủ lí do gì để làm điều đó nhỉ), cũng đừng trách hay giận hờn gì. Em cũng là con người mà, em cũng có cảm xúc mà. Em cũng biết đau, biết buồn đấy. Em thấy mình có lỗi với người ấy, có lỗi với những gì người ấy đã dành cho em. Anh cứ để em dây dưa thêm chút nữa nhé. Đến khi nào đấy, em thực sự sẵn sàng cho mọi thứ, em sẽ cho anh biết. Còn bây giờ, hãy cho em chút thời gian để nghi hoặc, hoài nghi, tiếc nuối; cho em dành một khoảng trống cảm xúc để tưởng nhớ quá khứ, một chút thôi. Và, anh cũng vậy nhé.
Lúc này, đơn giản chỉ là, em thấy nhớ anh…!