Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

SỐ: 250 - tác giả H’SIÊU BYĂ





SỰ TÍCH THÁC DRAY K’NĂO



Nếu bạn có dịp, hãy ghé thăm vùng thảo nguyên xanh M’đrăk, cùng ở với chúng tôi một đêm, uống với chúng tôi một ghè rượu, xé chung với chúng tôi một miếng thịt phơi khô, dưới ánh lửa lập lòe mờ mờ ảo ảo trên bếp lửa trong ngôi nhà dài các bạn sẽ được nghe già làng kể về sự tích dòng thác Dray K’năo ngày đêm cuồn cuộn dưới gốc đại thụ hàng trăm năm tuổi…
Ngày xưa, có một buôn của tộc người Êđê M’Dhur ở đầu nguồn con thác do vị tù trưởng giàu có và uy quyền cai quản. Nhà dài của tù trưởng con voi đi một ngày mới hết, chiêng núm, chiêng bằng treo đầy sàn, ngà voi, sừng tê giác treo đầy nhà trong nhà ngoài. Tôi tớ lên xuống cầu thang vai chạm vai, ngực chạm ngực, rộn ràng tấp nập như đi hội. Tù trưởng có một cô gái tên là H’Knăo vô cùng xinh đẹp:
Trông đằng trước như có người đã tạc
Nhìn đằng sau như có người uốn
Một buổi sáng nhìn theo vẫn không thấy chán mắt
Da vàng như hoa aring dơng
Chân trắng như hoa yuôr
Cái đầu như con dế ruồi
Bắp chân vàng như củ nghệ vừa chẻ đôi
Đôi môi đỏ xinh như môi con vẹt
Đứng ở xa trông nàng tựa như người M’Nông
Khi đến gần nhìn nàng giống như người J’rai
Tóc nàng dài và mượt bóng, các chàng trai ở buôn phía Tây liếc nhìn trộm không biết chán
Cặp vú của nàng vươn ra đằng trước
Thân hình mềm dẻo như cọng cây chuối non
Sắc đẹp của nàng thật lộng lẫy
Vào một ngày trời hanh khô và nắng nóng, con rắn chui vào hang, con mang ngừng ăn tìm chỗ trú, con cú, con vẹt đứng yên trong tổ không chịu ra, các cô gái trong buôn rủ nhau ra dòng thác tắm táp và nô đùa. Dòng thác trong vắt tung bọt trắng xóa ào ào đổ xuống tảng đá hình mai rùa dưới gốc cây si già trăm năm tuổi. Các cô gái thỏa thích vui đùa, vẩy nước lên nhau thả những tiếng cười giòn tan và trong trẻo. Tiếng cười của các nàng đánh thức chàng hoàng tử con trai vua thủy tề đang ngủ trưa trên tấm da cá chình xung quanh đính nhiều viên ngọc quý. Chàng mở mắt trông ra, ngạc nhiên khi thấy trong đám con gái kia có một nàng tên H’Knăo xinh đẹp tuyệt trần, chàng mê mẩn ngắm nàng, trái tim chàng rung động và từ đó con mắt ấy ngày nào cũng hướng về dòng thác – nơi một người con gái đánh cắp trái tim chàng.
Đêm đó H’Knăo mơ một giấc mơ kỳ lạ, nàng thấy một con rắn đen to hơn cột nhà sàn dài, con rắn nói được tiếng người:
- Ơ nàng H’Knăo xinh đẹp, ta là hoàng tử con vua thủy tề, kể từ khi trông thấy nàng, con tim ta đã ưng bởi vẻ đẹp hoa yuôr không sánh được, hoa aring dơng không sánh bằng. Ta muốn lấy nàng làm vợ, cha mẹ nàng cần bao nhiêu chiêng quý ta cho, bao nhiêu ché hiếm ta gửi, bao nhiêu trâu, bò ta trao, nàng đồng ý chớ?
H’Knăo sợ hãi:
- Yang ơ! Ta với chàng là hai thế giới khác nhau, chàng là thần, là con vua thủy tề còn ta là người trần mắt thịt sao chúng ta lấy nhau được? Buôn làng ta sẽ không chấp nhận, mẹ cha ta sẽ không cho phép.
- H’Knăo ơi! Nàng đừng lo chuyện đó. Ta muốn có người nấu cho ta bữa ăn ngon, dệt cho ta những tấm khố đẹp, ngày ngày cùng ta lên rẫy tỉa bắp, trồng khoai và người đó nhất định là nàng. Nàng sẽ là vợ ta.
Sáng hôm sau H’Knăo đem giấc mơ kể lại cho bố mẹ mình nghe. Bố mẹ khuyên nàng từ nay đừng ra dòng thác đó tắm nữa nhưng đến trưa trong người nàng bỗng nhiên nóng rực như lửa đốt. Thế rồi quên bẵng lời khuyên của cha mẹ nàng lại rủ các cô gái trong buôn ngâm mình dưới dòng thác mát rượi.
- Ơ H’Rin, H’Rang ở nhà trên. Ơ H’Mang, H’Tang ở nhà dưới. Bầu nước đã đầy, cơm nếp đã cạn, nhà cửa sạch bong không hạt bụi, các nàng có thể đi tắm cùng ta chứ?
- Vâng thưa H’Bia Knăo xinh đẹp, chúng tôi sẽ đi cùng bà.
Trưa. Trời đất chói chang không một đám mây nhởn nhơ đi dạo. Bỗng có một cơn gió mạnh làm cho cánh hoa đỏ rực rụng đầy tảng đá như tấm thảm đỏ màu bên dòng thác mát trong. Một chàng trai cưỡi một con ngựa đực đen bóng có đốm trắng trước trán xuất hiện:
Trông chàng oai phong lẫm liệt như con rắn hổ mang ngậm độc trong hang, như con giun mềm mại dưới đất
Kẻ giàu phía Đông, người sang phía Tây không ai bằng chàng
Chàng đẹp đến nỗi cá trắm, cá mè như muốn cắt cổ người giàu
Lông chân, lông đùi đều đặn mượt mà to bằng chân cỏ tranh
Lông mày rậm rạp, cong ngược phía trước
Râu to bằng chuôi dao con áp sát vành tai phía sau
H’Knăo ngẩn ngơ vì từ lúc lọt lòng tới giờ nàng chưa thấy một chàng trai nào đẹp lạ kỳ như thế. Chàng xuống ngựa và biến mất trong sự ngạc nhiên tột cùng của các cô gái.
Ngày hôm sau khi con gà rừng chưa cất tiếng gáy lần thứ nhất, trong buôn không có ngôi nhà nào bập bùng ánh lửa. H’Knăo nhẹ nhàng bước xuống cầu thang, nàng đi thẳng về phía dòng thác nơi có người con trai “oai như rắn hổ mang” đang đợi. Dưới ánh trăng tròn treo lơ lửng trên ngọn cây cao, họ trao cho nhau chiếc vòng bạc hẹn ước. Họ đã bén hơi nhau và nguyện sẽ cùng đắp chung tấm chăn, ăn cùng miếng trầu, hút cùng tẩu thuốc, lên rẫy lên rừng cùng nhau.
Một mùa trăng đi qua, tình yêu của họ lớn dần theo năm tháng, chàng hoàng tử mời nàng H’Knăo đến ra mắt bố mẹ mình dưới thủy cung. Ngựa chở hai người tiến về dòng thác. Nước rẽ lối thành con đường to và dài. Chim chóc hót líu lo trên tán lá xanh mọc hai bên đường. Xa xa là buôn hoàng tử.
Đó là buôn to hơn mười lần buôn nàng H’Knăo. Nhà chàng hoàng tử giàu hơn trăm lần nhà nàng H’Knăo. Trăm ngôi nhà phía Tây, trăm ngôi nhà phía Đông nhà hoàng tử sừng sững ở giữa - dài thườn thượt hơn tiếng chiêng ngân, hơn hơi ngựa chạy, trẻ con đi không nổi, khiêng ché Tuk, ché Đôi lên xuống cầu thang không chạm nhau. Trăm người bước lên gian gar, nghìn người bước xuống gian ôk nhà vẫn rộng thênh thang.
- Ơ con chim chích một nghìn, con chim cu một trăm, các tôi tớ của ta từ đây đến đằng kia, đây là người con gái ta yêu thương nhất, nào hãy đối xử với nàng tốt như các ngươi đối xử với ta, hãy chọn con heo, con gà béo nhất trong bầy để thui, lựa hạt gạo ngon và trắng tinh nhất để nấu, chọn rượU ngon trong ché Tuk, ché Tang to nhất để cột.
Lời hoàng tử vừa dứt trong nhà tôi tớ ríu rít và bận rộn hẳn lên. Người khiêng nồi bảy, nồi ba cho khách rửa tay, rửa chân cứ khiêng. Người nấu cơm trong nồi lớn bằng đồng cứ nấu. Người bẻ lá cột rượu cần cứ cột. Người giết heo, giết gà cứ giết. Mỗi người một việc chẳng mấy chốc thì xong, ché rượu đã buộc vô cột, cơm canh nghi ngút khói bày giữa nhà chờ khách ngồi vào mâm.
H’Knăo xếp tấm váy ngồi vào ghế, bàn tay nhỏ nhắn vin chiếc cần, chiếc cần cong cong đưa giọt rượu thơm nồng vào miệng. Nàng hút một hơi rượu vơi tới tai ché, nàng hút hai hơi rượu vơi nửa bụng ché, nàng hút ba hơi rượu cạn tới đáy. Cứ thế hết lượt nước này đến lượt nước nước khác, hết ché rượu này đến ché rượu khác cho đến khi chủ và khách say nghiêng ngả nhìn ra ngoài thấy bầu trời tối sầm, đôi mắt nặng trĩu kéo sụp trên khuôn mặt đỏ ửng màu hoa k’ting.
Mặt trời mọc trải trên bầu trời thành những dải nhiều màu như tấm chăn thổ cẩm
Nhìn đồi cỏ phía Đông thấy đàn ngựa trăm con đang thung thăng gặm cỏ. Lắng tai nghe ở khu rừng phía Tây thấy tiếng hú gọi đàn của bầy voi nghìn con đủng đỉnh rủ nhau đi nhấp nháp lá chuối non. Trông ra phía trước là cánh đồng lúa rẫy bạt ngàn đang độ chín mùi hương thơm thoang thoảng khắp buôn làng. H’Knăo đắm chìm trước cảnh thanh bình và no đủ ấy nhưng rồi nàng bỗng nhớ nhà, nhớ bố mẹ, nhớ ngôi nhà dài, nhớ bạn bè H’Tang, H’Mang. Nàng đâu biết ba ngày nàng dạo chơi dưới thủy cung bằng ba năm trên trần gian.
Sự xuất hiện của nàng H’Knăo với chàng trai lạ cùng con voi trắng làm bố mẹ, buôn làng H’Knăo mở tròn con mắt, há hốc cái miệng. H’Knăo kể lại đầu đuôi câu chuyện và ngỏ ý muốn lấy hoàng tử làm chồng và theo chàng về thủy cung. Lời tuyên bố của con gái khiến tù trưởng vô cùng tức giận, lũ trai làng buôn trên, buôn dưới dựng đứng tóc. Lấy hoàng tử đồng nghĩa với việc con gái xinh đẹp hơn hoa yuôr của tù trưởng sẽ chết. Tù trưởng chỉ có một người con gái nếu nàng chết đi ai sẽ là người đứng đầu căn nhà dài thượt của ông bà để lại. Nhưng nếu không cho H’Knăo lấy cả buôn làng sẽ bị chìm dưới dòng thác đầu nguồn kia như lời hoàng tử tuyên bố. Ôi! Buôn làng do ông bà mấy trăm năm gây dựng mà bị nhấn chìm thì mặt mũi nào đi gặp ông bà ở thế giới bên kia.
Tiếng tù và vang lên dồn dập, buôn làng náo động, một cuộc họp hội đồng già làng đã diễn ra suốt ba ngày ba đêm. Ai cũng trăn trở suy nghĩ, củi đã đốt hết một hốc, rượu đã uống hết mấy ghè, thuốc đã nhồi đến không biết bao nhiêu lá nhưng không ai có lời giải đáp hợp lí. Tù trưởng còn nhớ rất rõ, ngày vợ ông trở dạ sinh ra H’Knăo cả buôn một phen hú vía vì sinh ra nàng không cất tiếng khóc như những đứa trẻ khác, cứ trơ ra như một khúc gỗ cho đến khi ba tuổi. Và bây giờ đến tuổi bắt chồng nàng lại làm mọi người lo lắng. Một giọng nói khàn khàn của già làng tóc như màu mây vang lên phá tan không khí u trầm:
- Nàng H’Knăo con cháu chúng ta, ngày nó lọt lòng mẹ tôi đã nằm mơ thấy có một ngôi sao sáng rơi xuống dòng thác. Tôi đoán rằng con bé là người thuộc về nơi ấy. Yang đã vẽ ra số phận của chúng ta, vẽ ra số phận của con cháu H’Knăo. Tôi có ý kiến thế này, mọi người hãy cùng nhau bàn bạc. Hàng trăm năm nay buôn làng ta tuy sống cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng thỉnh thoảng lại hay bị đàn hổ trên núi xuống làm phiền. Chúng bắt tất cả heo, gà thậm chí cả người chúng gặp ngoài đường để ăn thịt. Chúng ta đã tiêu diệt chúng bằng cách đào hầm đặt bẫy, bắn cung tên có tẩm độc nhưng số lượng của chúng chẳng hề thuyên giảm. Con cháu H’Knăo là viên ngọc của buôn làng do vậy chồng nàng nhất định phải là người hơn người về tài và sắc. Để thử tài hoàng tử, ta hãy bắt hoàng tử giết và lột da một chục con hổ trên núi Cư Bă, một trăm con hổ trên núi Cư M’Ta, một nghìn con hổ trên núi Cư H’Mú. Nếu hoàng tử làm được điều đó, chúng ta sẽ gã con cháu H’Knăo yêu quý cho, ngược lại hoàng tử nếu không thực hiện được phải ngay lập tức trở về thủy cung từ bỏ ý định lấy con cháu H’Knăo làm vợ và không được phiền nhiễu buôn làng.
Ông già có màu tóc mây vừa dứt lời một tràng pháo tay vang dậy như sấm nổi lên. Mọi người thở phào nhẹ nhõm như cởi được sợi len rối khi chuẩn bị ngồi dệt.
Khi con gà trống cất tiếng gáy lần thứ nhất, hai bên đường đã là những bó đuốc sáng rực nghi ngút khói của dân làng đưa tiễn hoàng tử giết hổ trên núi. Nghe tin thử thách, nàng H’Knăo buồn lắm suốt đêm nàng lo lắng cho người yêu, giết từng ấy hổ ư? Cho dù chàng có là thần đi chăng nữa cũng không làm nổi. Còn hoàng tử, vẻ mặt chàng thản nhiên không một chút lo lắng sợ sệt. Chàng bước một bước đã tới núi Cư Bă giết sạch hàng chục con hổ, bước hai bước đã tới núi Cư M’Ta giết hàng trăm con hổ, bước ba bước đã tới núi Cư H’Mú giết hàng nghìn con hổ.
Con gà trống cất tiếng gáy lần thứ hai, thứ ba rồi thứ tư thì mặt trời mọc giữa hai quả núi phía Đông. Lúc này người ta thấy trước nhà tù trưởng xác hổ được chất thành núi. Dân làng chia nhau xẻ thịt phơi khô treo lên dàn bếp ăn dần qua mùa mưa năm sau.
Đám cưới của nàng H’Knăo con gái yêu tù trưởng với con trai vua thủy tề được tổ chức long trọng nhất từ xưa đến nay. Buôn làng ngả nghiêng say từ khi con trăng hình lưỡi liềm mờ mờ đến khi con trăng tròn sáng vằng vặc trên ngọn cây H’rê cạnh dòng suối. Nàng H’Knăo xinh đẹp theo hoàng tử về thủy cung. Sau đó người ta thấy tôm cua từng đàn từ dòng thác bò đông đen về nhà cha mẹ H’Knăo. Bỗng nhiên những con tôm cua kia rung mình ba lần đằng trước, bảy lần đằng sau, thật kì lạ tất cả thảy đều biến thành voi to, chiêng quý, ché hiếm. Thì ra đó là món quà mà vua thủy tề tặng cha mẹ H’Knăo vì đã cho ông con dâu thảo hiền. Tù trưởng cha H’Knăo đã giàu rồi con giàu nữa, sang rồi còn sang hơn nữa nhưng nỗi nhớ con gái không lúc nào nguôi ngoai. Họ ra dòng thác cúng sau mùa thu hoạch để cầu sức khỏe, mùa vụ bội thu cho dân làng và cũng là để tưởng nhớ con gái làm dâu dưới thủy cung không bao giờ trở về. Từ đó buôn làng đặt tên cho dòng thác ấy là Dray K’năo – dòng thác thiêng liêng của buôn làng, dòng thác mang tên người con gái xinh đẹp lẫy lừng từng làm điêu đứng bao trái tim của các chàng trai.
Ngày nay Dray K’năo là địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của huyện M’Đrăk. Không dốc như Dray Sáp, Dray K’nur, Dray K’năo mang đặc điểm riêng đủ quyến rũ mê hồn những ai đặt chân đến. Đầu nguồn, nước chảy ào ào bọt tung trắng xóa như giận giữ nhưng càng về sau dòng nước chuyển sang màu xanh tĩnh lặng luồn lách dưới cây cổ thụ già trăm tuổi cành lá xum xuê ngất ngưởng trên tảng đá lớn chẳng khác gì những cung bậc cảm xúc của tình yêu đôi lứa. Tham quan nơi đây du khách còn được hòa mình vào thiên nhiên cây cỏ, thấy những chú sóc nghịch ngợm chạy lăng xăng kiếm mồi, ngửi mùi thoang thoảng của lan rừng đủ màu rũ những chùm hoa dài từ cổ thụ già trăm tuổi, nghe âm thanh lích rích của bầy chim đang làm tổ trên cao...
Dray Knăo – quê tôi không những đẹp về phong cảnh mà đằng sau nó là ẩn dấu một sự tích dài mà tôi vừa kể cho các bạn nghe.



Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

SỐ: 250 - tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN






MÀU XANH CƯ K’RÓA
Ghi chép



Tháng 5 này về xã Cư Króa, huyện M’Đrắc, chúng tôi như bị lạc giữa màu xanh của rừng trồng. Bởi đi đâu, ở đâu, đến bất cứ ngã đường nào, thôn nào của xã cũng đều rợp trong màu xanh của keo lá tràm. Có cảm giác như đất này sinh ra là để dành riêng cho cây keo lá tràm bén rễ, xanh cành, tươi tốt.

Ông chủ tịch xã Nguyễn Văn Song khi nghe tôi hỏi chuyện: - “Hình như xã ta có phong trào Người người trồng keo, nhà nhà trồng keo thì phải?” đã trả lời một cách hóm hỉnh, rằng: - “Ở xã chúng tôi không chỉ có phong trào người trồng keo mà còn có cả phong trào keo trồng người nữa đấy. Người trồng keo bạt ngàn xanh tốt, keo giúp người xây nhà to, mua xe xịn, biến nhiều hộ nghèo, vợ chồng lục đục, thành giàu sang, hạnh phúc. Keo không chỉ giúp nhiều hộ dân thoát được đói, nghèo mà còn “nâng tầm” cho nhiều hộ trở thành tỷ phú. Có thể nói dân xã tôi và cây keo có mối lương duyên với nhau thiết tha đằm thắm lắm”. Ông chủ tịch xã trả lời tôi thế, rồi cười một cách vui vẻ. Tôi biết là lòng ông đang rất vui. Không vui sao được, làm chủ tịch ở một xã vùng sâu, vùng xa, vốn xưa kia đầy khó khăn, trên 80%  số hộ nghèo đói, dân cứ loay hoay mãi không biết xoay xở cách nào, trồng cây gì, nuôi con gì để có thể xóa được đói, giảm được nghèo. Thế rồi Công ty nguyên liệu giấy Tân Mai đưa cây keo đến đất này như là một loài cây định mệnh đã gắn kết với con người nơi đây, trở thành thứ cây trồng chủ lực, mở lối cho địa phương vươn lên.
+
Tôi còn nhớ cách đây khoảng 20 năm, tôi đã có dịp về Cư Kroá. Ngày ấy, đồng bào ở đây còn cơ cực lắm. Mới di dân từ Nam Thanh, tỉnh Hải Dương vào, chưa quen khí hậu Tây Nguyên, nên nhiều người bị ốm đau, bệnh tật triền miên. Phổ biến và nặng nề nhất là bệnh sốt rét, có năm toàn xã có trên 30 người chết vì sốt ác tính. Đất đai ở đây lại là đất cát pha sét, pha sỏi, bạc màu, nên không trồng được cà phê – thứ cây trồng có giá trị kinh tế cao nhất ở Tây Nguyên - mà chỉ trồng được các cây hoa màu như đậu, lạc, khoai, sắn, nhưng năng suất cũng… lè tè. Những năm đó hoa màu lại quá rẻ. Bởi thế nhiều hộ đã không cầm cự nổi, phải bỏ Cư K’róa trở về Hải Dương. Số ở lại cứ phải loay mãi trong việc tìm hướng làm ăn. Cái câu hỏi to đùng cứ lơ lửng thường trực trong đầu mỗi cán bộ cấp ủy, chính quyền địa phương, lơ lửng mãi trong nghĩ suy, trăn trở của người dân ở đây hết năm này qua năm khác là trồng cây gì đây, nuôi con gì đây để có thu nhập ổn định, thoát được đói, giảm được nghèo? Bấy giờ nào đã có ai dám mơ làm giàu được trên mảnh đất cát bạc màu này.
Theo ông chủ tịch xã thì: Mãi cho đến năm  2001, khi Công ty nguyên liệu giấy Tân Mai từ Đồng Nai đổ quân lên đây khảo sát đất đai, rồi bắt đầu cắm cây keo lai xuống đất này. Cây keo lai như “gái gặp hơi trai” cứ bời bời xanh tốt, tốc độ sinh trưởng như trông thấy được từng ngày; sau 5 năm đa số đã có đường kính gốc từ 15 đến 25 cm, cao 7 – 8m, cho người trồng một nguồn thu không nhỏ: 70 – 100 triệu đồng/ha. Thế là từ đó dân cả xã nhào theo cây keo. Xã có 9 thôn, 757 hộ dân, thì chỉ có hơn 200 hộ ở thôn 7 và thôn 9 người dân tộc Mông không trồng keo; còn lại 7 thôn người Kinh với trên 550 hộ tất cả đều trồng keo, hộ ít cũng một ha, hộ nhiều tới bảy, tám chục ha. Đến thời điểm này cả xã có tới 16.725 ha keo lá tràm thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, chiếm gần 80% diện tích tự nhiên của toàn xã. Nếu tính cả các loại cây xanh khác như nhãn, mít, vải, chôm chôm… thì diện tích che phủ của toàn xã lên tới gần 90%.
Có lẽ đây là một xã có diện tích che phủ vào hàng bậc nhất nước ta. Bởi thế về thăm Cư K’róa, chỉ mới bước chân đến thôn 1 - thôn đầu tiên của xã - chúng tôi đã bị bao bọc khắp tứ bề bởi màu xanh, như được đắm mình miên man, mơ mộng giữa màu xanh. Màu xanh ấy cho ta cảm giác thật trong lành, thư thái; và đặc biệt cho ta sự mát mẻ dù trời đang đổ nắng chang chang và Đài khí tượng quốc gia cho hay nhiệt độ trong vùng đang 35 – 36 độ C.
Theo anh cán bộ địa chính xã thì: Dân Cư K’róa nhào theo cây keo không chỉ vì cây keo hợp với thung thổ ở đây mà còn vì nó dễ tính, không phải đầu tư nhiều. Suốt chu kỳ kinh tế của nó (5 năm), mỗi ha keo chỉ phải chi tất tần tật khoảng 10 – 12 triệu đồng, nhưng cho thu hoạch tới 100 ster gỗ và nguyên liệu giấy. Với loại cây lớn, có đường kính từ 20 cm trở lên (dùng làm gỗ ép) sẽ bán được 1 ster 1,5 triệu đồng. Loại đường kính nhỏ hơn 20 cm, bán được 700.000 – 800.000 đồng/ ster. Như vậy, cứ trồng 1 ha keo lai, sau 5 năm sẽ cho nguồn thu khoảng 100 triệu đồng.
Điều kỳ diệu của cây keo là khai thác xong có thể dọn gốc trồng lại ngay và cây keo trồng lứa sau bao giờ cũng tốt hơn lứa trước. Không như trồng sắn chỉ làm được vài vụ là đất bị bạc màu, trơ lì, những vụ sau, người trồng sắn chỉ còn “ăn rễ”. Vì thế, nhà có nhiều diện tích, người ta trồng keo liên tục, hết chu kỳ này đến chu kỳ khác, không bao giờ cho đất nghỉ. Cũng vì thế trên địa bàn xã năm nào cũng có khoảng 70 – 80 ha keo được khai thác bán cho các công ty nguyên liệu giấy và làm gỗ ép, người dân thu về 6 – 7 tỷ đồng/năm.
Hôm ở Cư K’róa, chúng tôi đã đến thăm một trong những hộ trồng keo giỏi nhất của xã – Đó là hộ bà Ngô Thị Vân ở thôn 2, hiện đang trồng 82 ha keo lai, từ năm thứ 1 đến thứ 5. Bà Vân cho biết: Từ đầu năm 2012 đến đầu tháng 5.2013 bà cho khai thác 33 ha, thu trên 2 tỷ đồng. Bà thuê tới 7 nhân công làm việc quanh năm, hết thu hoạch xong liền chuyển sang trồng mới ngay, không bao giờ để đất trống. Tiếp khách dưới rặng nhãn râm mát ngay trong vườn nhà, bà Vân xởi lởi:
- “Bây giờ thì tôi mê cây keo quá rồi chú ơi, mê đến quên ăn quên ngủ, lúc nào cũng nghĩ về nó, lúc nào cũng muốn làm việc, mà làm không biết mệt. Năm nay đã 65 tuổi, tôi vốn là giáo viên nghỉ hưu, chồng tôi cũng là cán bộ nghỉ hưu, cả 2 vợ chồng đều có lương hưu đủ sống an nhàn, nhưng tôi thấy mình không thể ngồi yên trong nhà được. Làm có hiệu quả, nên lòng dạ lúc nào cũng thấy vui vẻ, quên cả mệt nhọc, quên cả tuổi già. Đấy chú xem, không có cây keo thì làm gì có cơ ngơi này, làm gì có ô tô, máy kéo và các phương tiện sinh hoạt đắt tiền khác, lấy đâu ra tiền để đầu tư cho con cái học hành và giúp chúng nó mở được công ty làm  ăn riêng ”…
Nghe cách nói chuyện khá hoạt khẩu, nhìn vóc dáng khỏe khoắn, bước đi nhanh nhẹn và nhìn nước da rám nắng nhưng mặn mà của bà, tôi biết bà là một con người rất chịu thương chịu khó, giàu nghị lực, giàu ý chí, biết nhìn xa trông rộng, đã quyết làm việc gì thì làm bằng được. Đấy cũng là điều giúp tôi giải thích vì sao từ cách đây mười mấy năm  bà đã “thâu tóm được” 82 ha đất trồng keo bới giá rẻ. Giờ chỉ riêng giá trị đất thôi, nếu chuyển nhượng bà cũng thu được cả chục tỷ đồng. Từ Hải Dương vào đất này năm 1993, với hai bàn tay trắng, tạo được gia sản như thế, thật đáng nể phục.

Rời Cư K’róa, lòng chúng tôi không chỉ có niềm vui về đời sống của người dân đã khấm khá hẳn lên, làng quê thanh bình và gương mặt người nào cũng lộ rõ sự vui tươi, phấn khởi, mà Cư K’róa còn cho chúng tôi thấy rõ một hướng đi, hay có thể nói là một giải pháp hữu hiệu để triển khai thực hiện một nội dung hết sức quan trọng vừa được Hội nghị TW 7 (khóa 11) đề cập – đó là vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong rất nhiều giải pháp để ứng phó với biến đổi khí hậu thì trồng rừng, nâng cao độ che phủ cho mặt đất theo chúng tôi là biện pháp hàng đầu cấp thiết nhất hiện nay. Vì rừng sẽ tạo ra sự cân bằng sinh thái, giữ nước, tạo nguồn sinh thủy, đất mặt không bị rửa trôi, tránh được lũ ống, lũ quét, không bị hạn hán, sa mạc hóa… Và như vậy, Cư K’róa chính là một tấm gương, một mô hình tốt để những nơi khác có điều kiện tương tự học tập.

SỐ: 250 - tác giả HỒNG CHIẾN

Tcas giả (người đứng) trao đổi với Hội đồng giáo dục trường TH La Văn Cầu

CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI
“CÕNG CHỮ” VÀO RỪNG CƯ SAN


Anh Tạ Hồng Diện – Phó trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện M’Đrăk dẫn đoàn chúng tôi về thăm Trường tiểu học La Văn Cầu, đây là trường xa trung tâm huyện nhất và cũng là trường hiện nay khó khăn nhất của huyện M’Đrăk. Xe đưa đoàn xuôi quốc lộ 26 về phía thành phố Nha Trang, qua đèo M’Đrăk, đường uốn lượn như con trăn khổng lồ đang lách mình qua các mỏm núi, vực sâu lao về hướng biển. Hai bên đường rừng thông, keo tai tượng, bạch đàn… tươi tốt bao phủ hết các ngọn đồi. Đến địa phận xã Ea Trang, hai bên đường vẫn thưa thớt bóng nhà như cách đây… thời tôi mới tới.
Cuối năm 1978, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ về xã Ea Trang phối hợp với chính quyền địa phương vận động nhân dân xây dựng Trường nội trú Ea Trang; tôi chọn một ngọn đồi tại thôn Hai để làm trường vì thôn Hai là trung tâm xã và gần Trạm kiểm soát Phượng Hoàng, đảm bảo an ninh cho thầy và trò. Ngày ấy hai bên Quốc lộ 21 (nay là Quốc lộ 26) chỉ có cỏ tranh, cỏ lau và cây đót mọc được, trải dài lên tận các đỉnh đồi – Người dân địa phương bảo: Tại thằng Mỹ rải chất độc hóa học phát quang cây cối, đề phòng Quân giải phóng chặn đánh đường nên mới thành ra như vậy! Đứng dưới Quốc lộ 21 vào buổi chiều thỉnh thoảng vẫn thấy nai, hoẵng và heo rừng đùa giỡn trên triền núi. Trường lúc ấy làm tạm bằng cây rừng và lợp cỏ tranh thôi, nhưng quan trọng là có trường, có nhà để các em học sinh cấp II là người Êđê đến ở và học. Trường làm xong, tôi bàn giao lại và đi xây dựng trường mới rồi đi học và chuyển qua công tác khác, không ở ngành giáo dục nữa. Thấm thoắt gần 30 năm sau - năm 2007 – tôi mới có điều kiện quay lại trường cũ cùng thầy Lê Cảnh Truật – khi ấy đương chức Phó phòng Giáo dục và Đào tạo huyện. Trường cũ còn đây, nhưng tên trường đã thay đổi, cơ sở vật chất cũng đổi thay, những lớp học tạm bợ ngày xưa nay đã được kiên cố hóa, mái ngói đỏ tươi; học trò không chỉ có người Êđê mà nay còn có: Kinh, Tày Nùng, H’Mông… Nhưng các em không có chế độ nội trú mà hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình. Nhìn những túp lều bằng tre, nứa lợp cỏ tranh hoặc vải bạt dựng tạm để ở và học tập của các em người dân tộc thiểu số (vì ở quá xa trường, học xong không về được phải ở lại đến hết tuần) tôi có bài phóng sự: “Gian nan đường đến cái chữ!” phản ánh một thực tế buồn ở địa phương và góp phần kiến nghị để Nhà nước ban hành chính sách hỗ trợ cho học sinh bán trú dân nuôi ở vùng xa xôi, hẻo lánh, khó khăn. Mới đó mà đã gần sáu năm, sáu năm trôi qua, theo như báo cáo, một số trường ở đây vẫn còn nhiều khó khăn lắm, tôi cũng muốn biết những khó khăn đó là gì, và có cách gì tháo gỡ hay không?
Xe đưa tôi qua cổng trường cũ, đến gần đèo Phượng Hoàng, rẽ phải theo Tỉnh lộ mới làm, được rải nhựa phẳng phiu, uốn lượn qua các mỏm núi cao vực sâu để đến địa phận xã Cư San, có đoạn dài hơn 10 km không một nóc nhà, một bóng người. Anh Tạ Hồng Diện cho biết: Xã Cư San mới được thành lập, toàn bộ dân số của xã là dân tộc các tỉnh phía Bắc di cư tự do vào làm ăn sinh sống và đông dần lên, thế là thành một xã mới ở vùng sâu cách xa trung tâm huyện khoảng 40 Km. Do địa thế hiểm trở: núi cao, suối sâu, đường sá đi lại khó khăn, học sinh ở phân tán… điều kiện kinh tế của xã cũng như huyện còn khó khăn nên đầu tư cho trường còn hạn chế lắm, nhưng được các thầy cô nhiệt tình nên gắng gượng vượt qua. Tôi hỏi: Trường khó khăn như thế nào mà được xếp “nhất” huyện? Các bác cứ đến tận nơi sẽ rõ! Nghe câu trả lời của Phó trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, tôi hơi ngac nhiên và thoáng chút bất ngờ… Lãnh đạo của một phòng quan trọng của huyện thuộc hàng khó khăn nhất tỉnh lại là một người còn khá trẻ, tuổi chỉ độ ngoài ba chục, dáng mảnh khảnh, hoạt bát, nhưng được đào tạo cơ bản theo “chuẩn”.
Bất ngờ, một cô gái đi xe máy vòng qua đầu xe của chúng tôi giơ tay ra hiệu cho lái xe đi theo; xe bỏ đường nhựa, rẽ theo đường đất leo lên sườn đồi. Con đường đất do nước chảy nhiều nên tạo ra vô số rãnh và “ổ voi, ổ trâu”, làm người ngồi trên xe lắc lư như ngồi trên thuyền ra đảo; đi một đoạn nữa, xe bò đến đỉnh đồi có treo tấm biển: Trường tiểu học La Văn Cầu. Trước mắt tôi một ngôi trường hai tầng với 6 phòng học còn khá mới, sân trường trồng hai hàng đa và si đã vươn cao hơn 3 mét, cành lá sum suê xanh tốt làm bớt đi cái nắng nóng của đá sỏi màu nâu đỏ dưới sân trường hắt lên. Trong lớp, các thầy cô đang say mê giảng bài. Tôi thầm nghĩ, trường đẹp thế này sao bảo khó khăn?
Ban giám hiệu và một số thầy cô không phải lên lớp đón chúng tôi như đón người thân lâu ngày về thăm nhà. Tay nắm tay, tiếng cười rộn rã, cùng bước lên tầng 2 của ngôi trường, nơi có phòng Hội đồng, phòng Hiệu trưởng, Hiệu phó… cùng chung trong một phòng học. Tôi đề nghị với Ban Giám hiệu nhà trường sau giờ dạy buổi sáng, mời hết các thầy cô và cán bộ công nhân viên của trường đến giao lưu với đoàn. Thầy Lê Quý Sỹ - Hiệu trưởng nhà trường - tuổi ngoài bốn mươi, phát âm chuẩn tiếng… xứ Thanh nên không cần giới thiệu về quê quán nhưng ai cũng nhận ra - báo cáo tóm tắt tình hình nhà trường: Trường thành lập năm 2008, đến năm học 2012 – 2013 toàn trường có 13 lớp với 321 em học sinh; học sinh dân tộc ít người: 317 em, học sinh nữ: 140 em, nữ dân tộc: 139 em;  về đội ngũ: toàn trường có 21 cán bộ, giáo viên, công nhân viên; trong đó: nữ 15, dân tộc ít người 02; trình độ chuyên môn: Đại học: 6 người, Cao đẳng: 6 người, Trung cấp: 8 người, chưa qua đào tạo: 01 người (bảo vệ trường); trường có một chi bộ 8 đảng viên. Hiện nay ngoài trường chính với 8 lớp học một buổi, còn có hai điểm trường là điểm Ea Sanh cách trường chính 5 km và điểm Sông Chò cách trường chính hơn 7 km có 3 lớp với 60 em học sinh, ở điểm này có một lớp ghép; toàn bộ số giáo viên ở điểm Sông Chò đang phải ở nhờ trong Trường Mầm non, điều kiện sinh hoạt rất khó khăn với “3 không”: Không điện, không nước sạch và không… nhà vệ sinh.
Qua báo cáo của Hiệu trưởng và trao đổi với các thầy cô giáo tại trường, tôi giật mình trước con số “ba không” mà thầy cô giáo dạy tại các điểm xa trường chính đang phải chấp nhận. Mùa mưa, nước lũ ầm ầm đổ về cuốn theo mọi thứ, nước đỏ đậm phù sa cùng rác rưởi, nhưng đó cũng là nước ăn và sinh hoạt cho các thầy cô và học trò; mùa khô dòng  nước cạn kiệt, các thầy cô lại phải xua trâu bò, heo gà… để chắt từng can nước đầy váng, mang về để dùng; đêm đến lại căng mắt bên ngọn đèn dầu leo lét soạn giáo án, chấm bài để mặc muỗi rừng vây quanh… Không điện, là không ti vi và các điều kiện tiện nghi khác của thời hiện đại – thế kỉ XXI, thế mà vẫn cam chịu, bám lớp bám trường. Nhưng khốn khổ nhất là… không nhà vệ sinh thầy cô và trò đều ra núp sau bụi cây, ngọn cỏ để “giải quyết”; trời nắng còn đỡ, trời mưa thì quả là cực hình; thầy còn dễ, các cô thì không biết nói thế nào để diễn tả cho hết... Kinh phí của ngành không có, xã lại quá nghèo không thể hỗ trợ nổi nên đành… chờ vậy! Có lẽ thấy vẻ ngạc nhiên xen lẫn băn khoăn của tôi, thầy Lương Bá Từ, Phó hiệu trưởng nhà trường nói thêm: Trường chính thì đỡ hơn, chỉ hai không thôi là: không nước, không công trình vệ sinh! Tôi giật mình, hỏi lại: Thật thế sao? Để chứng minh mình nói không sai, thầy Phó hiệu trưởng đưa tôi ra hành lang ngắm nhìn quang cảnh toàn trường: ngoài ngôi trường 2 tầng với 6 phòng học đứng chơ vơ trên đỉnh đồi, không có một công trình phụ trợ nào, bên cạnh cổng trường có thêm một phòng học mẫu giáo lợp tôn, đường từ cổng vào sân trường được trồng ba hàng keo tai tượng cao hơn đầu người, còn lại là cỏ tranh và cỏ dại trải dài xuống tận dưới chân đồi, phía xa xa nơi chân núi hiện lên mờ mờ những nóc nhà ẩn hiện qua nền khói của người dân đốt rừng làm rẫy. Ngọn đồi trường đóng ở biệt lập với khu dân cư, nên học sinh đến trường đều phải băng qua một cánh đồng rộng và một vài con suối. Thầy Lương Bá Từ chỉ tay vào mỏm đồi phía bắc nói thêm: Đấy là khu nhà công vụ của trường đấy anh ạ, cũng may mà còn có điện lưới và đầu năm nay được đầu tư đào giếng để anh chị em thoát cảnh dùng nước suối dưới chân đồi. Tôi hỏi thêm: Cả khu trường chính không có nước thì làm thế nào? Đành phải cho các em học sinh thay nhau xuống chân đồi múc nước suối lên dùng tạm. Anh tính từ đây xuống đến chỗ múc nước cũng phải gần 150 mét chứ ít gì mà đường lại dốc như vậy… Giọng của thầy Hiệu phó có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ làm tôi bỗng thấy rưng rưng.
Sáng nay, theo giới thiệu của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, chúng tôi đến thăm Trường tiểu học Kim Đồng, đóng ở trung tâm thị trấn huyện, cơ sở vật chất quả là bề thế, xứng danh Chuẩn quốc gia giai đoạn I; phòng họp hội đồng rộng rãi, thoáng mát có trang bị quạt, ti vi, bàn ghế đạt chuẩn. Cô Vũ Thị Hòa, Hiệu trưởng nhà trường giới thiệu sơ qua về cơ sở vật chất của trường làm mấy anh phóng viên đi theo tròn mắt và khi ra thăm lớp học bấm máy liên tục, không dứt ra được. Tôi theo chân cô Nguyễn Thị Bắc, Phó hiệu trưởng nhà trường thăm phòng làm việc của hiệu trưởng, các hiệu phó… phòng nào cũng lớn chắc phải trên 15 m2, ngoài bàn làm việc, tủ hồ sơ, máy vi tính còn có bộ xalon bọc da tiếp khách; lên gác thăm phòng học của khối 4 và 5, lớp nào cũng trang trí rất đẹp; bàn ghế, bảng chống lóa đúng chuẩn. Vòng ra phía sau khu lớp học là khu nhà vệ sinh xây khép kín đạt chuẩn theo quy định của ngành… Phía trước sân trường, bên cạnh những gốc bàng, gốc phượng… những chiếc ghế đá xếp vòng quanh làm chỗ nghỉ cho thầy và trò giờ ra chơi; còn giờ đây đứng trên sân Trường tiểu học La Văn Cầu, cũng là trường tiểu học như nhau sao mà khác nhau quá xa đến thế!
Theo chân các thầy cô lên thăm khu nhà công vụ giáo viên, khu nhà cấp IV tường xây lợp tôn, mỗi phòng rộng chừng 3 mét, dài 5 mét; nếu thầy cô có gia đình được ưu tiên một phòng còn độc thân thì mỗi phòng kê hai hoặc ba chiếc giường một, và một chiếc bàn liền ghế 2 chỗ ngồi của các em học sinh tiểu học. Tôi hỏi thầy Nguyễn Thành Tâm, Tổng phụ trách của trường: Bàn ghế bé tẹo thế này làm sao ngồi mà soạn bài được? Dạ, bàn ghế để ấm chén làm chỗ uống nước, còn soạn bài thì kê va ly lên giường ạ! Tôi tròn mắt trước thực tế của khu nhà công vụ của trường khi biết thêm đầu năm nay khu nội trú này mới có giếng nước để các thầy cô sử dụng, còn trước đây vẫn dùng nước suối; hơn chục cán bộ công nhân viên và giáo viên ở khu nhà công vụ này vẫn chưa có nhà vệ sinh, đang phải thực hiện theo tập quán cổ xưa là ra… triền đồi!
Trở về thị trấn huyện, tôi tìm gặp thầy Phạm Ngọc Thạch, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo, trao đổi về những điều mắt thấy tai nghe tại Trường tiểu học La Văn Cầu, thầy cho biết: Tôi đã vào thăm trường nhiều lần, biết anh em ở đó rất khó khăn, thương lắm; nhưng kinh phí của ngành không có, chưa biết làm thế nào được cả! Nghe lãnh đạo ngành trả lời như vậy, tôi mang băn khoăn đến trao đổi với ông Lê Đình Điền, Phó bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện M’Đrắk, ông cho biết: Địa phương cũng biết những khó khăn của các thầy cô nhưng điều kiện tài chính chưa cho phép nên năm nay mới đầu tư đào giếng cho khu nhà công vụ, sang năm học sau chúng tôi sẽ tháo gỡ dần dần! Tôi biết ông Chủ tịch huyện cũng trăn trở với giáo dục rất nhiều vì bản thân ông cũng từng là giáo viên tiểu học về huyện M’Đrắk năm 1977 như tôi, đã từng phải vào tận từng nhà dân vận động học sinh đến trường; từng đối diện với cái chết khi bị bọn Fulro tập kích vào Trường dân tộc nội trú M’Đrắk năm 1979 bằng sự mưu trí và lòng dũng cảm, ông đã chiến thắng; vượt lên tất cả, ông đứng vững, trụ lại với mảnh đất quê hương thứ hai của mình, cống hiến cho ngành Giáo dục và giờ đây là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của huyện, chắc chắn những khó khăn của Trường tiểu học La văn Cầu nói riêng và của cả ngành Giáo dục huyện M’Đrắk nói chung sẽ được ông tham mưu cho Đảng và chính quyền địa phương tìm cách tháo gỡ vào đầu năm học mới. 
Rời huyện M’Đrắk trở về, trong tôi đọng lại ấn tượng khó quên về các thầy cô giáo ở Trường tiểu học La Văn Cầu, tuy phải chiụ đựng và chấp nhận tất cả khó khăn, vất vả đời thường để “cõng chữ” đến với các em học sinh với mong muốn thực hiện lời dạy của Bác: “ai cũng được học hành”. Ban Giám hiệu cùng với Công đoàn và Đoàn thanh niên của trường biết phát huy dân chủ, thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình của người thầy được Đảng và Nhà nước đào tạo, mang ánh sáng văn hóa đến với mọi nhà, vận động các em đến lớp học cái chữ của Bác, của Đảng, mở mang kiến thức để mai này xây dựng đất nước ta, địa phương ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Sự cố gắng ấy của thầy và trò Trường tiểu học La Văn Cầu đã gặt hái được thành công nhất định; kết quả cuối năm học 2012 – 2013: Chi bộ trường được đề nghị công nhận trong sạch vững mạnh xuất sắc; trường được đề nghị công nhận đạt danh hiệu: Tập thể lao động tiên tiến.
Chúng ta mong rằng các cấp có thẩm quyền ở Đắk Lắk nói riêng và các tỉnh có dân định cư tại xã Cư San nói chung, sớm có kế hoạch phối hợp đầu tư cơ sở vật chất để các thầy cô ở đây bớt khó khăn, vất vả, an tâm công tác “cõng chữ vào rừng”; và các em học sinh đa số là người dân tộc thiểu số nơi đây có cơ sở vật chất tạm đủ để học tập đạt kết quả tốt hơn.



SỐ: 250 - tác giả TRẦN CHI




CÓ MỘT M’DRAK KHÁC…


Ấn tượng trong tôi mỗi khi đi trên quốc lộ 26, qua địa bàn của huyện M’Đrắk là một vùng đất hoang sơ, mênh mông đồng cỏ, mênh mông núi đồi… Mãi cho đến khi được nghe nhạc phẩm Ơi M’Đrắk của nhạc sỹ Nguyễn Cường, tôi mới dần hình thành suy nghĩ: Có một M’Đrắk khác đầy tiềm năng đang cần đầu tư để khai thác, để hình thành một vùng nông thôn mới trù phú.
Tại buổi làm việc giữa Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh với UBND huyện vào đầu tháng 5, ông Nguyễn Ngọc Bình - Phó chủ tịch UBND huyện cho biết: M’Đrắk có địa bàn rộng với nhiều núi đồi, diện tích tự nhiên 133.600 ha, dân số 69.000 người gần 17 dân tộc cùng chung sống. Đã bê tông hóa 80% đường huyện quản lý và gần 30% các tuyến đường của xã. Toàn huyện có 51 trường học và huy động đạt 80% con em trong độ tuổi đến trường. Thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đạt gần 15 triệu đồng và tổng thu ngân sách của huyện ước đạt 20 tỷ… Huyện đã cơ bản quy hoạch xong cụm công nghiệp với các nhà máy gạch, mía đường, gỗ lạng, gỗ ép… Về trồng trọt, chăn nuôi, M’Đrắk nổi bật với những cánh đồng mía, sắn bạt ngàn cùng với tổng đàn trâu - bò chừng 30.000 con được chu chuyển hàng năm…
Sau buổi làm việc tại UBND huyện, anh Nguyễn Trọng Tấn, cán bộ Phòng Văn hóa đã được huyện cử dẫn chúng tôi đến các xã, thị trấn trong huyện để tìm hiểu thêm về đời sống của người dân. Anh em trong đoàn cùng hội ý và thống nhất đi đến 3 xã - một xã khá, một xã trung bình và một xã còn khó khăn.
Điểm đầu tiên chúng tôi ghé thăm là xã Krông Jing. Tại đây đoàn được Bí thư Đảng ủy - Nguyễn Văn Khoa, một người tầm trung niên và một nữ Phó chủ tịch xã trẻ trung, năng động cùng tiếp và làm việc với đoàn. Nhìn chủ nhà phối hợp làm việc, tiếp đoàn tôi chợt có suy nghĩ về công tác cán bộ và đội ngũ kế thừa của xã Krông Jing là khá ổn… Có thể nói vo như thế này, xã có trên 2.000 hộ với chừng 10.000 dân. Kinh tế của xã khá phát triển với các cây, con chủ lực như lúa, mía, bò lai và các loại cây cao sản khác, xã có nhiều trang trại lớn với những cánh đồng được cải tạo để trồng cỏ phục vụ cho chăn nuôi. Thủy lợi chỉ đáp ứng được 60% diện tích cây trồng, tình trạng phá rừng tuy ít nhưng việc lấn chiếm đất của lâm trường để sản xuất hoa màu đang là vấn đề nhức nhối của xã… Về văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của xã, anh Trọng Tấn cán bộ văn hóa huyện cho biết: Krông Jing có phong trào vào loại nhất, nhì của huyện.
Sau khi làm việc tại văn phòng ủy ban, xã đã cử anh Y Phô Niê - cán bộ văn hóa - đưa đoàn đến thăm buôn Hoang. Con đường trải nhựa băng ngang qua buôn cùng với đường điện hạ thế cho thấy đời sống, sinh hoạt của bà con là khá dể chịu. Buôn Hoang chừng 10 năm trước đây đã từng nổi tiếng là nơi sản xuất mè đen với những cánh đồng bạt ngàn. Nay do giá cả thấp, mè đen không còn đủ sức hấp dẫn người dân trồng trọt nữa. Được biết tại buôn Hoang, bình quân mỗi nhân khẩu được cấp 2 ha đất để chăn nuôi, trồng trọt (đất tại huyện M’Đrắk hầu hết là đất cát pha mùn đen, bạc màu và xen lẫn sỏi đá, vì vậy tuy đất đai nhiều nhưng người dân vẫn còn khó khăn trong đời sống, trong sản xuất)… Tại đây anh em trong đoàn đã ghé thăm một số gia đình, trong đó đáng chú ý là gia đình anh Y Mi Niê. Anh Y Mi là con của một liệt sỹ đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, vợ chồng anh hiện có 4 người con, lại phải cưu mang thêm 5 người con của người chị vợ đã qua đời, gia đình anh chị có 20 ha, mỗi năm gieo trồng được 1,3 ha lúa nước 2 vụ, 7 ha mía, 1 ha sắn và 1 ha bắp, diện tích còn lại anh chị trồng cỏ để chăn nuôi bò, gia đình có 10 con bò mẹ và một số bê con. Có thể nói phong trào chăn nuôi ở buôn Hoang khá tốt, gia đình nào cũng có những đàn bò từ 5 đến 10 con trở lên…
Theo con đường nhựa để đến buôn Tai, nơi có nhà văn hóa cộng đồng đầu tiên của huyện. Buôn Tai hộ nghèo còn rất cao (hộ nghèo chiếm 45%), là buôn đặc biệt khó khăn của xã Krông Jing. Tìm hiểu chúng tôi được biết, buôn Tai nghèo là do đông con, thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt và nước phục vụ cho sản xuất lại càng thiếu…
Những ngày tiếp theo đoàn cũng tranh thủ đi một số thôn, buôn thuộc xã Ea Pil cùng một số xã khác, và ở đâu cũng vậy. Vụ mùa 2012, 2013 do thời tiết không thuận lợi, nắng hạn kéo dài làm giảm năng xuất cây trồng. Đồng cỏ chăn nuôi ngày càng bị thu hẹp, diện tích trồng mía, trồng sắn đã lâu năm nhưng ít có sự chuyển đổi nên đất ngày càng bạc màu…
Một điều đáng buồn khi tham quan, tìm hiểu các thôn, buôn ở M’Đrắk, khi chúng tôi đề nghị cho xem các bộ cồng chiêng thì không nhà nào đồng ý, với lý do kiêng cữ, phải vận động mãi có nhà mới chịu cho xem, nhưng chỉ có phóng viên truyền hình mới được vào quay cùng chủ nhà… Hỏi ra mới biết rằng trước đây đã từng có những người lợi dụng danh nghĩa Sở Văn hóa để trưng mua chiêng, ché, vì vậy đồng bào rất ngại khi có người lạ muốn xem cồng chiêng của gia đình.
Ngày thứ ba ở M’Đrắk, anh em trong đoàn thống nhất đi 2 trường học, một trường tốt, hoàn chỉnh nhất và một trường khó khăn nhất của huyện. Thầy giáo Phó phòng Giáo dục đã đưa chúng tôi đến Trường tiểu học Kim Đồng. Tại đây đoàn đã được Ban Giám hiệu, Công đoàn nhà trường tiếp đón, giới thiệu một số hoạt động cơ bản của nhà trường, đồng thời đưa đoàn đi tham quan một số lớp học…Trường Kim Đồng là một trong những trường điểm của huyện, vì vậy tỉ lệ học sinh khá giỏi cao, tỉ lệ học sinh bỏ học hầu như không có. Vấn đề khiến chúng tôi băn khoăn là tỉ lệ học sinh nam, học sinh nữ mất cân đối, tỉ lệ học sinh nam ở trường Kim Đồng đã vượt quá 55%. Đây là điều mà ban dân số KHHGĐ các cấp cần suy nghĩ!
Rời trường Kim Đồng, chúng tôi hướng về ngả đèo Phượng Hoàng (đường đi Nha Trang) để đến với Trường tiểu học La Văn Cầu, trường cách trung tâm huyện chừng 40 Km, trong đó có gần 12 Km phải đổ đèo, vượt các đồi núi trọc (vì rừng đã biến mất…). Các thầy, cô cho biết: Cách đây chưa đầy một năm, đoạn đường này vẫn chưa đổ cấp phối, đổ nhựa, xe máy phải bọc xích để đi trong mùa mưa và phải chờ nhau đi cùng để còn giúp nhau đẩy xe mỗi khi mắc lầy, sụt hố, hoặc gởi xe, đi bộ. Trường La Văn Cầu còn có 2 phân hiệu cách trường chính trên 5 Km, đó là phân hiệu Sông Chò có 5 lớp nhưng chỉ có 3 giáo viên, vì vây phải có 2 lớp ghép (lớp hai với lớp ba, lớp bốn với lớp 5), phân hiệu Ea Sanh chỉ có 2 lớp nhưng lớp học lại rất tạm bợ, phụ huynh phải đóng tiền mua tôn, tự cưa cây, xẻ ván làm phòng học. Trường chỉ đầu tư bảng chống lóa và bàn ghế cho học sinh… Giáo viên ở trường chính còn có nhà công vụ để ở, nhưng 2 điểm trường còn lại phải đi ở nhờ. Học sinh ở 2 phân hiệu phải đi từ 3 đến 7 cây số để đến lớp. Vấn đề nước sinh hoạt và công trình vệ sinh vẫn là điểm bức xúc nhất cho thầy, trò nơi đây. Về sinh hoạt, đời sống, giáo viên ở đây một tuần đi chợ 1 lần, giữa tuần tại các điểm bán lẻ trong khu vực có thêm món gì tươi sống thì sẽ mua bổ sung… Cuộc sống cơ cực như vậy, tạm bợ vậy nhưng khi chúng tôi hỏi về mong ước của giáo viên ở đây là gì? Thì điều đáng xúc động là hầu hết đều trả lời ngay mà không cần suy nghĩ - đó là mong muốn Nhà nước sớm làm một cây cầu ở điểm trường Ea Sanh để học sinh, giáo viên và cả người dân được thuận tiện đi lại. Có giáo viên khi trả lời phỏng vấn của phóng viên truyền hình đã nói rất thật lòng: “Ban đầu khi nhận quyết định vào trường La Văn Cầu, lòng không mong muốn chút nào nhưng nghĩa vụ phải vào; tuy nhiên khi vào đến đây thấy học sinh quá tội, quá thương nên phải tận tâm dạy dỗ, tận tâm giúp đỡ rồi gắn bó với trường với lớp luôn”.
Trong đoàn chúng tôi có nhiều người đã từng đi một số điểm trường ở các tỉnh biên giới phía Bắc, trường ở đó rõ ràng là rất khó khăn, và mặc dù mọi so sánh đều khập khiễng nhưng theo chúng tôi những ngôi trường như La Văn Cầu ở Tây Nguyên, Đắk Lắk cũng không hơn các điểm trường ở 6 tỉnh biên giới phía bắc là bao!
Rời trường La Văn Cầu, tôi chợt nhớ lại lời hứa của một quan chức cấp cao khẳng định rằng: Năm 2012 lương của ngành giáo dục sẽ đủ sống… Lời hứa này đã có lúc làm cho vợ, con của tôi (là người của ngành Giáo dục) rất mừng và tin tưởng vào một ngày mai xán lạn. Lời hứa đó đã trở thành nỗi buồn gặm nhấm tôi trong suốt cuộc đi này.
Sau những chuyến đi về các buôn làng, về các trường học, tôi đóng cửa ngồi viết với hy vọng rằng: Vẫn còn những mảng sáng ở lâm nghiệp, ở công nghiệp, đặc biệt là cụm công nghiệp của huyện đã và đang hình thành. Ở đó sẽ thu hút được nhiều lao động dôi dư của huyện, sẽ là đòn bẩy để phát triển nền kinh tế của M’Đrắk một cách bền vững và để có một M’Đrắk khác…

Viết ở trại sáng tác M’Đrắk tháng 5.2013


Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

SỐ: 250 - tác giả ĐÀM LAN





Gọi bình minh





Tôi đến quê em giữa chiều nhẹ nắng
Gió mênh mang dang dở những đường cày
Có chú ong vàng ngơ ngẩn chút hương say
Chùm hoa dại mơ màng bên bóng núi

Nhánh bằng lăng vươn dài như ngóng đợi
Lá trở mình nương tiếng vọng mùa sang
Gót chân hoa mê mải chẽ lúa vàng
Kìa ai giữa đại ngàn ngân khúc hát

“Ơi Ma-răc…” gió lưng chiều ngơ ngác
Thong thả đàn bò phơ phẩy những triền xanh
Dìu dịu ánh mặt trời dìu dịu sắc long lanh
Rung nhịp thở từ bờ khoai ruộng mía

Vầng trăng nghiêng nghe mạch đất cựa mình
Suối róc rách những hạt mầm tách vỏ
Sớm tinh mơ ríu ran lời chim nhỏ
Chấp chới cánh mềm thao thiết gọi bình minh.




SỐ: 250 - tác giả HỒNG CHIẾN








THỨC DẬY MỘT TIỀM NĂNG

Ghi chép


Theo quốc lộ 26 A từ Buôn Ma Thuôt đi thành phố Nha Trang, đến km 85 thuộc địa phận huyện M’drak ta bắt gặp một tấm biển dựng bên trái đường không lớn lắm có ghi: Thác Đray K’nao; rẽ trái theo con đường nhựa tương đối bằng phẳng đi thêm gần 3km, trước mắt chúng ta hiện ra một cơ ngơi khá đẹp mắt: Khu nhà tròn không lớn lắm dùng làm nhà hàng, xung quanh trồng hoa và cây cảnh trang nhã, nhiều cây rất lạ được chủ nhân mang từ dãy núi Chư Yang Sin về, đứng soi bóng xuống bể nước nơi có đàn cá cảnh tung tăng bơi lội, đùa giỡn, làm tăng thêm vẻ trang nhã. Sau khu nhà hàng là bãi để xe khá rộng, có mái che bằng tôn; chếch bên phải, một ngôi nhà sàn làm theo kiểu của người Êđê dài độ 70 mét trông rất đẹp; gần nhà sàn là khu nhà nghỉ, phòng hát karaoke… Có thể nói cơ sở hạ tầng của khu du lịch sinh thái Đray K’nao đã đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của du khách đến tham quan và muốn lưu lại. Phía đông, cánh rừng nguyên sinh trải dài, cây cối xanh tốt, chim, sóc… líu lo ca hát, nhảy múa… dưới tán của cánh rừng ấy, tiếng nước đổ nghe như một bản nhạc du dương quyến rũ du khách đến khám phá. 
Theo con đường đổ bê tông hình bậc thang từ khu nhà hàng xuống thác, du khách đi dưới tán cây rừng cao chót vót tỏ bóng mát rượi; trên các ngọn cây, bầy cu xanh đông đúc đứng ngắm trời, khoe bộ lông xanh biếc có điểm thêm một vòng màu gạch nhạt xung quang cổ trông thật đẹp. Con đường uốn lượn qua các gốc cây, đưa chúng ta đến bên dòng thác. Đray K’nao không lớn lắm nếu so với các thác khác trên dòng sông Serepok, nhưng cái riêng và khác chính là độ dài của dòng thác. Từ con đường bê tông đưa ta đến lưng chừng thác, hiện ra trước mắt những khối đá đen khổng lồ chen nhau xếp hàng tạo nên dòng chảy nhiều bậc, mỗi một bậc tạo ra một vẻ đẹp khác nhau làm say đắm lòng người. Vẫn theo con đường bê tông đi ngược dòng chảy, ta được chiêm ngưỡng những gốc đa cổ thụ, gốc lớn chừng vài vòng tay người lớn ôm không hết; cái lạ và hấp dẫn ở đây chính là những cây đa mọc lên từ đá, bộ rễ xù xì ôm trọn những hòn đá lớn giống như cây bonsai khổng lồ đã được một nghệ nhân tài hoa tạo hình. Nhưng cũng có cây chỉ ôm một phần tảng đá lớn, phần tảng đá còn lại to như một gian nhà, khá bằng phẳng để du khách có thể ngồi hóng mát, thưởng cảnh thác và cùng nhau nhâm nhi thì thật thú vị. Lại có hòn đá được hai thân cây đa cùng buông rễ ôm ấp, tạo thành hình của chiếc ô khổng lồ, có thể bày bàn nhậu cho vài chục người cùng chung vui.
Bên mép nước, nhiều hòn đá lớn xếp với nhau tạo nên những cái hang huyền bí, cũng là nơi những bạn trẻ ưa mạo hiểm có thể rủ nhau cùng khám phá, mang lại niềm vui thích thú đến bất ngờ. Bờ phía đông dòng thác, quang cảnh còn rất hoang sơ vì chưa được tôn tạo; chính điều ấy tạo nên một nét đẹp riêng, lôi cuốn những ai muốn thử sức sự mạo hiểm khám phá thiên nhiên của mình. Hai bên thác, rừng cây nguyên sinh được bảo vệ tương đối tốt, tỏa bóng che mát trọn đoạn đường cho tất cả mọi du khách đến tham quan thác; trên ngọn cây, chim, sóc nhảy múa cũng tạo nên một bức tranh sinh động, thu hút khách xem, đây cũng chính là điểm khác biệt của Đray K’nao với các dòng thác khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Có thể nói: Mỗi gốc cây, mỗi mỏm đá đều gợi cho ta những liên tưởng khác lạ và thúc dục ta khám phá, tìm hiểu và thư giản hình như khi dừng chân bên dòng thác này, chúng ta xua đi mọi phiền muội của đời thường.
Đray K’nao đẹp như thế, có địa thế thuận lợi về giao thông, được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ như vậy, tại sao vẫn ít khách? Đây là câu hỏi đang đặt ra cho chủ đầu tư, Ban quản lý khu du lịch sinh thái cũng như chính quyền địa phương. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy tạm chia tay thác, quay ra quốc lộ 26 A trở về thị trấn M’drak, qua chợ Khánh Chỉ; cả một đoạn đường dài như vậy, tuyệt nhiên không thấy có thêm bất cứ một hình ảnh nào giới thiệu về thác để du khách biết. Đray K’nao nằm trên tuyến du lịch: Nha Trang – Buôn Ma Thuột – Đà Lạt – Nha Trang, nhưng đã có công ty nào đưa khách của mình ghé thăm? Phải chăng thời gian qua, dòng thác đẹp, thơ mộng giống như “công chúa ngủ trong rừng”, chưa được đánh thức. Muốn mọi người biết để đến tham quan, ban quản lý thác phải biết quảng bá hình ảnh trên pano, áp phích, hay tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng… để du khách chưa đến đã biết và khi đã biết là muốn đến; còn khi đã đến địa phương phải thấy được những hình ảnh biết nói, lôi kéo du khách đến, đến một lần rồi lại muốn dẫn gia đình bạn bè đến thăm lần nữa. Bên cạnh đó Ban quản lý thác cần liên kết với buôn Tai, xã Krông Jin tạo thêm điểm tham quan, giới thiệu cho du khách tìm hiểu những ngôi nhà sàn truyền thống của người Êđê đang được lưu giữ và bảo tồn khá phong phú song song với những ngôi nhà dài được xây dựng mới, hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng riêng của nền văn hóa bản địa. Rời buôn Tai, du khách tiếp tục đến thăm trang trại Trung Nguyên, tại đây mọi người được chiêm ngưỡng đồng cỏ thảo nguyên M’drăk thu nhỏ - hình ảnh của thảo nguyên M’đrăk một thời nổi tiếng nay đã biến mất nhường chỗ cho các cánh đồng mía, khoai mì, cao su…; thăm đàn ngựa trên trăm con được mua từ các nước Ả rập, Tây Âu, Úc về, tung tăng trên đồng cỏ; hoặc xem hươu sao, heo rừng… được nuôi bán tự nhiên; tất cả những nét đặc biệt đó tạo nên quần thể du lịch hấp dẫn du khách trên địa bàn. 
Để phát huy hết tiềm năng của sản phẩm “công nghiệp không khói Đray K’nao”, đã đến lúc những người làm công tác quản lý nơi đây phải có một tầm nhìn chiến lược, quảng cáo quy mô kết hợp với liên kết với các công ty du lịch ở các tỉnh Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lăk…, tạo điều kiện thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan. Việc cải tạo và nâng cấp một số hạng mục phục vụ việc tham quan thác của du khách cũng cần phải được làm ngay. Thác Đray K’nao” có chiều dài gần 700 mét còn nhiều điểm hấp dẫn nhưng chưa được khai thác hết để du khách có thể chiêm ngưỡng như: Đường nhánh đi xuống các mỏm đá đẹp, gốc cây lớn hay các hang động phía đông... Đặc biệt phía chân thác, nước tạo thành một chiếc hồ nho nhỏ có thế ngồi câu cá cũng chưa được đầu tư đường để du khách xuống thưởng ngoạn. Nếu những người quản lý nơi đây, làm được những điều ấy, tôi tin du khách bốn phương không chỉ nhớ tới vùng đất xinh đẹp thường được biết với cái tên thảo nguyên M’Drak thơ mộng qua bài hát “Ơi M’Drak” của nhạc sĩ Nguyễn Cường, mà còn nhớ đến M’Drak như một điểm du lịch hấp dẫn, từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng.

Mùa mưa năm 2013

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

SỐ: 250 - tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN


                     
Về M’Drak

Lạc vào câu hát Y Moan
hồn tôi trôi giữa miên man gió ngàn
trôi trên sóng cỏ mênh mang
neo vào ánh mắt mơ màng của ai

Về đây gặp núi xanh cây
gặp đồng xanh lúa, gặp mây xanh trời
gặp em tôi lạc trên đồi
như con bê nhỏ, cho người tìm tôi…
+
Ôi thảo nguyên đất một thời
cỏ khô cháy đỏ dưới trời tháng ba
đá mồ côi khóc quanh nhà
đêm nghe gió hú sởn da: thú rừng

Cả đời amí còng lưng
vẫn không gùi đủ rau rừng nuôi con
cả đời mòn gối trèo non
ama vẫn phải héo hon vì nghèo…
+
Bây giờ
buôn rộng tiếng reo
câu ca thôi kiếp gieo neo tủi sầu
đồng xưa
lúa đã xanh màu
rẫy xưa nay đã bò trâu đầy đàn
đồi xưa
rừng đã bạt ngàn
và em
như thể… tiếng đàn đêm nay…
tiếng đàn ai thả đắm say
cho ai mơ được cầm tay… tiếng đàn!


M’Drak, 10.5.2013