Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

SỐ 264 - tác giả HỒNG CHIẾN

 

 Tác giả HỒNG CHIẾN

THEO CHÂN CHIẾN SỸ CHỐNG GIẶC LỬA

Ghi chép


Đầu giờ chiều ngày 28 tháng 7, tôi vừa ngồi vào bàn làm việc đã thấy họa sỹ An Quốc Bình - Thư ký tòa soạn Tạp chí Chư Yang Sin lao vào phòng thét lên: “Cháy! Anh ơi, cháy phía sau đình Lạc Giao rồi, khói dữ lắm!”. Tôi vội ôm máy ảnh lao xuống cầu thang, chạy ra đường. Hai anh em ra đến ngã tư Hoàng Diệu - Điện Biên Phủ đã thấy cảnh sát giao thông và trật tự chốt chặn đường; dân đứng đông nghịt, mắt dõi về phía đình Lạc Giao, khói cuồn cuộn bốc lên che kín cả góc thành phố. Tôi cùng họa sỹ An Quốc Bình lách người để lao về phía đình. Có lẽ nhìn thấy chúng tôi biết là nhà báo nên cảnh sát nhường đường cho chạy qua. Phía sau đình Lạc Giao thỉnh thoảng vẫn thấy ngọn lửa lóe lên phía trên nóc đình.

Đình Lạc Giao nằm ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, được xây dựng vào khoảng năm 1928 – 1930, thời Pháp thuộc do ông Phan Hộ người huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa lập nên. Đình được đặt tên Lạc Giao vì chính địa điểm nơi đặt đình này, ông Phan Hộ lần đầu tiên lên gặp gỡ các già làng người Êđê, được họ tiếp đón chu đáo, mặc dù khi ấy quan lại thực dân Pháp ra sức ngăn cấm người Kinh lên đây giao lưu. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, 100 chiến sĩ Nam tiến đã hy sinh bên cạnh khu biệt điện Bảo Đại trong một trận đánh bất ngờ và không cân sức; nhân dân tổ chức đấu tranh, buộc chế độ cũ chấp nhận cho rước linh vị 100 chiến sĩ về đình để thờ. Sau Đại thắng mùa xuân 1975, nước nhà thống nhất, đình Lạc Giao được công nhận Di tích Lịch sử Quốc gia, nơi hàng năm tổ chức các hoạt động tế lễ định kỳ như: Ngày 16, 17 tháng giêng, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, người dân làm ăn, buôn bán thuận lợi, phát đạt; ngày 16, 17 tháng tám (âm lịch), lễ tạ ơn trời đất, thần linh, giúp bà con làm ăn, buôn bán thuận hòa; ngày 27 tháng mười (âm lịch), lễ tế 100 chiến sỹ Nam tiến hy sinh thể hiện lòng thành kính, tri ân của nhân dân với những người đã ngã xuống để dành lại hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc; ngày 10 tháng ba (âm lịch), đình Lạc Giao là nơi tổ chức lễ Giỗ Tổ hàng năm của tỉnh Đắk Lắk để nhân dân tỏ lòng thành kính hướng về đất Tổ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”; ngày  2 tháng 3 năm 1990 Bộ Văn  hóa Thông tin (Bộ văn hóa cũ) ra Quyết định số 168 VH/QĐ công nhận đình Lạc Giao là di tích lịch sử… Một ngôi đình đã in đậm trong trái tim của bao thế hệ người từng sống, chiến đấu và xây dựng thành phố Buôn Ma Thuột, vậy mà… Chân chạy nhưng đầu tôi luôn nghĩ về đình và không khỏi lo sợ hỏa hoạn cướp đi tài sản tâm linh quý giá đã được cha ông để lại…
Chúng tôi lao vào đình, người dân tập trung trong sân khá đông, khói lửa vẫn cuồn cuộn bốc lên phía sau điện chính. Nhân dân và cảnh sát né đường cho tôi chạy ra sau Đình, năm chiến sĩ cảnh sát đang dùng bốn vòi rồng phun nước qua bức tường vừa bị đập vỡ để dập lửa mấy ngôi nhà bên cạnh. Nhìn lên phía trước ngọn lửa tạt vào ngọn cây sao cao hơn dãy nhà hai tầng đốt cành lá cháy đỏ rực. Gió thổi mạnh, từ hướng đình qua đường Y Jut đã góp phần hạn chế lửa lan qua đình. Tôi chạy qua ngã tư đường Phan Bội Châu – Y Jut thấy ba chiếc xe cứu hỏa của Cảnh sát PCCC tỉnh đang phun nước vào tiệm giày Minh Hưng và cửa hàng lốp xe Minh Hiền; mấy phút sau có thêm một xe của Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột lao vào bật súng bắn nước làm sập biển quảng cáo tiệm giày Minh Hưng để cảnh sát bắc thang leo lên mái nhà, kéo vòi rồng phun ra phía sau. Bên đường dân đứng đông lắm, cảnh sát giao thông, cảnh sát trật tự phải lập hàng rào ngăn dân để lực lượng chức năng làm nhiệm vụ.
Tôi len qua rừng người, qua luôn hàng rào cảnh sát vào bên trong tác nghiệp. Khói mù mịt, chịu không nổi, tôi lui ra ngã tư Y Jut – Phan Bội Châu, sát bên hàng rào cảnh sát để thở, mắt không rời hiện trường. Bỗng có tiếng quát: Tránh ra cho tao vào! Tôi quay lại thấy một người trung niên không mặc áo đang cố đẩy hai cảnh sát để vào phía trong. Anh cảnh sát mang quân hàm Trung úy vẫn nhỏ nhẹ: “Bác ơi không vào được đâu, để anh em dập lửa đã”. “Mẹ mày, nhà tao cháy hết rồi có cho tao vào không thì bảo!”. Ba anh cảnh sát xúm lại làm hàng rào chắn phía trước, vẫn nhỏ nhẹ động viên người đàn ông đang nổi khùng; nhiều người dân đứng xung quanh cũng ứa nước mắt tham gia giữ người đàn ông lại.

Ngọn lửa vẫn bùng lên bên nhà số 115, tạt vào tường ngôi nhà 117 đường Y Jut, trong khói lửa mịt mù lúc ẩn lúc hiện hình ảnh khoảng hai chục cảnh sát PCCC kéo vòi nước theo hướng tay chỉ của người mặc bộ đồ ka ki bạc màu, phun thẳng vào tường nhà số 115 chung với nhà số 117; tiếng người nào đó kêu lên: Ông Tư Rơi, Giám đốc Công an tỉnh đấy! Tiếng kêu như reo của một người dân làm người đàn ông đang hung hăng chửi bới cảnh sát bỗng lặng ngắt. Tôi lia ống kính kịp ghi lại khoảng khắc vị Tướng chỉ huy ngành Công an tỉnh Đắk Lắk - Trần Kỳ Rơi đang đứng chung với những người lính trong mịt mù khói lửa, sát cạnh những mảnh tường đang cháy có thể sập xuống bất cứ lúc nào. Ông  ra những mệnh lệnh cần thiết cho cán bộ, chiến sĩ xung quanh chặn đứng ngọn lửa không cho lan qua nhà số 117. Có chiến sĩ bắc thang định leo lên tường nhà số 115, ông nói gì đó rồi chỉ qua nhà số 113, người cảnh sát hạ thang xuống vừa lúc xe cần cẩu của Công ty Điện lực Đắk Lắk chạy đến, hai chiến sĩ leo lên, kéo vòi rồng xịt vào phía trong nhà 115. Hình ảnh của ông tướng đứng chung với anh em ngay trên điểm nóng nhất của cuộc chiến không những động viên những chiến sĩ đang làm nhiệm vụ chiến đấu với giặc lửa an tâm, dốc toàn bộ tâm trí thực hiện nhiệm vụ mà còn làm vững tin những người dân có mặt tại hiện trường, cho dù họ là khách vãng lai hay là nạn nhân có cơ ngơi dành dụm cả đời phút chốc đang chìm trong biển lửa.
Xe cứu hỏa nối đuôi nhau chạy vào và có cả xe bồn của Công ty Môi trường - Đô thị thành phố Buôn Ma Thuột cũng được điều đến hỗ trợ lực lượng PCCC, bao vây khống chế ngọn lửa. Khoảng gần 16 giờ đám cháy đã được khống chế, không lan thêm ra các căn hộ bên cạnh. Các chiến sỹ PCCC vẫn tiếp tục công việc dập nốt các đám lửa thỉnh thoảng bùng lên trong các căn nhà có mái vừa sụp xuống. Bỗng có người thúc vào tôi. Tôi quay lại nhận ra anh Huy, Trưởng Phân xã TTXVN tại Đắk Lắk đang kéo tay Đại tá Nguyễn Văn Định,  Phó Giám đốc Công an Tỉnh đề nghị cho biết nguyên nhân vụ hỏa hoạn. Anh em đồng nghiệp xúm lại tác nghiệp, tôi cũng cố bấm vài kiểu hình ghi lại hình ảnh anh em phóng viên tác nghiệp trong màn khói lửa bao phủ.

Gần 19 giờ đám cháy được khống chế hoàn toàn, các chiến sỹ PCCC cuộn ống nước, lăn lại xe chuẩn bị ra về, nhiều người ngồi bệt ngay xuống nền đường, trước ngôi nhà số 93 còn nguyên vẹn để thở; vài người xúm lại chia nhau gói thuốc lá. Tôi lia máy ghi hình ảnh người lính vừa hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị rời trận địa; một người thấy vậy kêu lên: Chú đừng đăng báo chúng cháu đang hút thuốc đấy nhé! Tôi lại bắt tay những người cảnh sát còn rất trẻ, họ vừa trải qua một trận chiến đấu căng thẳng, nguy hiểm, giành giật lại sự bình yên cho nhân dân và trong trận chiến ấy rất có thể sẽ có người phải ra đi, từ giã cuộc sống giữa tuổi thanh xuân của mình, nhưng họ đã tình nguyện nhận nhiệm vụ bảo vệ cho nhân dân có cuộc sống bình yên nên chấp nhận tất cả, không ngại hy sinh tính mạng của mình. Những bàn tay lạnh ngắt, da nhăn nheo vì thấm nước sau hơn nửa ngày căng thẳng đấu nhau với giặc lửa, nắm tay tôi rất chặt; miệng  nở nụ cười tươi, mặc dù tôi biết các anh đang đói. “Công việc của chúng cháu là vậy thôi, khi có hỏa hoạn phải xác định ngay biện pháp ngăn chặn, khống chế không cho đám cháy lan rộng. Hôm nay nhờ có phương án chính xác nên khống chế được lửa, nhiều nhà cùng chung vách trong khu phố đông đúc như thế này vẫn an toàn là thành công lớn đấy chú ạ”. Họ rất hồn nhiên trao đổi với tôi khi đánh giá kết quả “trận đánh”.

Hơn 19, trời đột ngột đổ mưa. Trên các ngã tư đường, xung quanh hiện trường, cảnh sát giao thông và cảnh sát trật tự vẫn đứng làm nhiệm vụ bảo vệ hiện trường, hướng dẫn cho người, xe lưu thông. Vẫn còn rất đông người tụ tập trên vỉa hè nhìn về khu nhà sau hỏa hoạn với ánh mắt đau đớn, buồn rầu; chắc nhiều người trong số họ là nạn nhân hay bạn bè những người không may mắn bị hỏa hoạn cướp đi toàn bộ gia sản cả đời tích cóp nay bỗng trắng tay. Trước nhà số 119, nơi góc đường Y Jut – Phan Bội Châu mấy ông thợ điện cùng với cảnh sát mặc sắc phục xanh đang nỗ lực sửa bình hạ áp. Đèn đường bật sáng, soi rõ những hạt mưa rơi xiên xiên xuống những bức tường đứng trơ trụi, đen thui vẫn còn nghi ngút khói.

Cả khu phố sầm uất gồm 13 căn hộ vừa buôn bán, vừa là nơi ở của nhiều gia đình phút chốc thành đám tro tàn. Đây là vụ hỏa hoạn lớn nhất từ trước tới nay xảy ra ở Đắk Lắk. Nhiều gia đình chỉ kịp ôm con chạy thoát thân, không mang theo được gì và cũng may không có thiệt hại về người. Nguyên nhân cháy theo nhận định bước đầu của cơ quan chuyên môn là do chập điện. 
Gần hai chục căn hộ và ngôi đình thiêng Lạc Giao cùng chung vách với các căn nhà bị cháy vẫn được bình yên. Có được kết quả đó là một sự cố gắng rất lớn của lực lượng Công an PCCC Đắk Lắk cùng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bạn. Vị Tướng chỉ huy trận đánh biết huy động nhân lực, vật lực một cách tài tình, hợp đồng tác chiến, bao vây, khống chế để giảm thiểu tổn thất có thể. Vì công việc, tôi theo chân các anh cảnh sát từ đình Lạc Giao, băng qua đường Phan Bội Châu rồi đường Y Jut, lại quay về đường Phan Bội Châu để bao vây đám cháy giữa khu vực đông dân cư, buôn bán sầm uất của thành phố; tận mắt thấy những cán bộ chiến sĩ cảnh sát giao thông và trật tự làm rất tốt việc lập hàng rào, điều tiết giao thông, đảm bảo không có lộn xộn xảy ra trong khu vực có hỏa hoạn. Điều đáng mừng hơn khi chứng kiến thái độ bình tĩnh của các anh trước thái độ thiếu kiềm chế của một số người gặp nạn đã làm đẹp thêm hình ảnh người Công an nhân dân trong con mắt người dân. Trong trận đấu sinh tử với giặc lửa, mặc dù phương tiện PCCC của tỉnh lạc hậu, nhưng chỉ huy đã biết phối hợp với các đơn vị bạn điều xe chuyên dụng của Cảng Hàng không sân bay Buôn Ma Thuột, xe cẩu của Công ty Điện lực và xe bồn của Công ty Môi trường - Đô thị thành phố cùng bao vây, khống chế và dập tắt đám cháy, không để lan rộng; đó là một chiến công rất lớn của Công an tỉnh Đắk Lắk. Xin chúc mừng những người Công an Đắk Lắk tham gia vụ chữa cháy tại khu vực đường Y Jut đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình vì sự bình yên của nhân dân.


Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

SỐ 263 - tác giả HỒNG CHIẾN

Tác giả HỒNG CHIÊN



DƯỚI CHÂN NÚI CHƯ PAL

Ghi chép


Trong buổi lễ khai mạc Trại sáng tác Văn học - Nghệ thuật huyện Ea Kar, tháng 6 năm 2014, anh Nguyễn Văn Vinh - Phó trưởng Phòng Văn hóa - Thông tin huyện nói với tôi: Ea Kar có rất nhiều điểm điển hình các bác đã biết qua báo cáo và báo đài, nhưng có ba điểm không thể không đến là: Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô - một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên mà lực lượng kiểm lâm hàng ngày, hàng giờ đang phải đổ cả xương máu của mình để bảo vệ, gìn giữ; khu căn cứ cách mạng buôn Trưng - căn cứ của ta trong thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước và đặc biệt buôn M’Um của người Êđê, buôn duy nhất của người dân bản địa thuộc xã Cư Prông”. Nghe giới thiệu vậy, tôi mừng lắm và quyết định sẽ đến thăm buôn M’Um để biết vì sao nó vẫn giữ được nét truyền thống quý giá như vậy.
Từ thị trấn Ea Kar, nơi Trại sáng tác đóng quân xuôi theo quốc lộ 26A về phía thành phố Nha Trang khoảng 10 km đến thị trấn Ea Knôp rẽ phải theo đường vào hồ chứa nước Krông Păc Thượng, đến trụ sở xã Ea Păn rẽ trái đi tiếp vào UBND xã Cư Prông, đi tiếp 8 km nữa là đến buôn M’Um - anh cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện đưa đoàn đi giới thiệu như vậy. Xe chuyển bánh, bon bon trên đường nhựa rải thảm bê tông rất đẹp, nhiều người xuýt xoa: Sao ở vùng này có con đường đẹp thế! Anh cán bộ địa phương đi cùng đoàn cho biết: Con đường này làm để đi vào hồ chứa nước Krông Păc Thượng nên mới được như vậy đấy! Hai bên đường nhà cửa nhân dân xây dựng rất đẹp, toàn nhà xây, mái lợp tôn lạnh hoặc ngói đỏ tươi như một lời khẳng định vùng quê trù phú.
Xe qua UBND xã Ea Păn một chút rẽ trái, con đường trước đây chắc được rải nhựa, nay đã hư hỏng gần như hoàn toàn, mặt đường toàn ổ trâu, ổ voi, lổn nhổn đá và nhựa cục còn sót lại. Xe đi như múa trên đường tránh các vũng lầy thêm gần 10 km nữa tới được UBND xã Cư Prông. Những cánh đồng mía vừa qua thu hoạch, rừng cao su tươi tốt và những mái nhà làm theo kiểu mái Thái lợp tôn, lợp ngói nối đuôi nhau chạy qua cửa xe lùi lại phía sau ngầm giới thiệu với mọi người một vùng quê thanh bình có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Xe qua UBND xã Cư Prông đến một ngã ba, anh cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin bảo lái xe dừng lại để hỏi đường vào buôn M’Um. Nhà văn Nguyễn Hoàng Thu cười, hỏi:
- Cậu đã vào buôn lần nào chưa?
- Dạ, đây là lần đầu tiên em đi đấy ạ!
Mọi người trên xe bật cười. Tôi bảo:
- Rẽ trái theo con đường chạy song song với suối.
- Sao anh biết ạ? Anh cán bộ địa phương đi cùng đoàn ngạc nhiên hỏi lại.
- Từ năm 1992 trở về trước, mình có gần 5 năm trời theo người dân vào trong này đi chặt mây và tìm trầm; ngày ấy nơi đây chỉ là con đường mòn, dân các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn di cư tự do vào đây phá rừng làm rẫy, đêm đến thường bị hổ xuống bắt trộm chó và heo nữa đấy.
Nhiều người cùng ồ lên ngạc nhiên khi trước mắt họ giờ đây là những cánh đồng lúa nước mới vào vụ gieo trồng, trên cánh đồng màu nối liền đến triền đồi: bắp, đậu các loại xanh mượt mà, trĩu quả trải dài đến hết cả tầm mắt. Trước đây vùng này là đồi cỏ gianh xanh tốt kéo dài đến tận chân núi cao mới có rừng già. Mùa khô, chỉ cần một tàn lửa các quả đồi sẽ thành biển lửa thiêu rụi tất cả, để trơ mặt đất đầy tro than. Khi mưa xuống cây cỏ đội đất ngoi lên phủ một màu xanh tươi mát rộng hàng chục km vuông. Khi ấy các loài thú ăn cỏ kéo nhau về từng đàn đông đúc như: heo, nai, mang, sơn dương, bò tót, voi... trông cứ như cảnh trong phim về châu Phi vậy. Thú ăn cỏ về nhiều kéo theo các loài ăn thịt như: hổ, báo, chó sói... cũng tìm đến. Nhiều lần người đi rừng nhặt được cả nửa con heo hay nai chúng ăn không hết bỏ lại.
Nhà buôn trưởng buôn M’Um mái ngói, sàn ván, vách ván có 4 gian làm phòng khách, hai gian phía sau làm buồng ngủ. Trong phòng có giàn Karaoke, tivi màu 21 in; dưới ti vi một tủ chè kiểu mới và bộ salon lớn. Vợ chồng chủ nhà ra đầu cầu thang đón khách. Ông chồng cụt bàn tay phải nên đưa tay trái ra bắt, người mảnh khảnh, cao, trán hói, đầu còn lưa thưa mấy sợi tóc, tuổi chắc cũng phải gần 50. Bà vợ thấp hơn một chút, nhưng mập mạp, miệng tươi như hoa. Anh cán bộ Văn hóa xã giới thiệu: Ông Y Bhăn Byã - Buôn trưởng và vợ, bà H’Thuận Niê – Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Cư Brông. Buôn trưởng Y Bhăn cho biết: hiện nay buôn Um có 35 nóc nhà, 40 hộ, 197 nhân khẩu. Toàn buôn có 02 người kinh là phụ nữ lấy chồng về đây còn lại là người Êđê. Hiện nay buôn còn 23 hộ 90 khẩu thuộc diện nghèo theo tiêu chí mới.
Tôi hỏi chủ nhà: “Buôn mình định cư ở đây lâu chưa? Hình như trước kia ở phía bên kia suối Ea Bay chứ không ở đây”. Bà H’Thuận tròn xoe mắt nhìn tôi, hỏi lại: “Sao anh biết?”. Ông Y Bhăn trả lời: “Buôn cũ ở chỗ trụ sở UBND xã đóng bây giờ, năm 1962 bọn Mỹ - ngụy dồn dân lập ấp chiến lược bắt nhân dân về nhốt ở xã Krông Jin, quận Khánh Dương; sau giải phóng tình hình còn phức tạp nên mãi năm 1985 dân mới vượt cái đèo kia – ông chỉ lên cái núi hình yên ngựa trước nhà, lên đây làm rẫy, sau đó ở lại lập buôn ở bên suối dưới chân núi, sau này mới chuyển ra đây. Sao anh biết buôn cũ”?. “Mình dạy học ở huyện M’Drak từ năm 1977 đến năm 1983 mới đi học, học xong chuyển về công tác ở huyện Ea Kar, khoảng năm 1988 đến 1992 thỉnh thoảng có vào đây”.
- Nai... thầy Chiến! H’Thuận đứng bật dậy, reo lên nắm lấy tay tôi - Em nè thầy, hồi thầy dạy bọn em năm 1978, em và H’Loan hay đi theo thầy với cô Tường cùng quê với thầy đấy, thầy nhớ không?
- H’Loan có nước da trắng, mặt tròn ở buôn Um, gần nhà cô giáo H’Ni.
- Đúng đó thầy, ôi vừa gặp thầy em đã thấy ngờ ngợ như gặp ở đâu, quen lắm mà chưa nhận ra. Thầy vẫn trẻ thế, bọn em già hết rồi!
Thật bất ngờ khi gặp lại cô học trò nhỏ bé ngày xưa nay đã là một cán bộ xã, mọi thứ hình như đã thay đổi, chỉ riêng đôi mắt và nụ cười thì không khác bao nhiêu. Thời ấy tôi là một thành viên trong đoàn 18 giáo sinh Thanh Hóa được điều về huyện M’Drak công tác; trong đoàn có mười người cùng quê huyện Nông Cống: tám nam, hai nữ; chúng tôi ngày lên lớp, tối về thay nhau ôm súng tuần tra canh gác, sẵn sàng chiến đấu, chống  lại bọn phản động Fulrô tập kích. Năm học 1977 - 1978, tôi và cô Viên Thị Tường được cử đi dạy lớp 3 và lớp 2 mở tại buôn Um. Trường lúc ấy chỉ làm bằng tre nứa, lợp cỏ gianh. Học trò vừa học nói tiếng phổ thông, vừa học chữ; còn thầy cô vừa dạy chữ vừa học lại tiếng các em nên vui lắm. Thấm thoắt thế mà đã gần 37 năm rồi, con số mười người chúng tôi thời ấy nay đã mất đi hai người, họ đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, có người bám trụ lại nơi đây đến trọn đời, còn tôi chuyển công tác qua nhiều nơi trong tỉnh. Có thể nói, lớp chúng tôi ngày ấy đã dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất cho quê hương mới Đắk Lắk, và góp phần đào tạo, bồi dưỡng được những thế hệ kế tiếp để gánh vác công việc thế hệ trước giao lại. Một thời gian khổ, một thời khó khăn cuối cùng cũng đã qua đi, những thầy cô và học sinh chân đất học trong lớp mái gianh vách đất khi xưa nay đã viết nên trang sử mới ở vùng đất mới.
H’Thuận xúc động cho tôi biết: Kinh tế buôn em so với mặt bằng chung nơi đây thì chưa bằng vì cả buôn mới có 12 ha lúa nước hai vụ, hơn 20 ha trồng khoai mì; dân còn nghèo vì thiếu đất canh tác, nhưng dù có nghèo mấy cũng không phá rừng thầy ạ. Nhưng tình hình này không biết giữ được bao lâu nữa, gỗ lớn nhà nước đã khai thác xong, số còn lại bị lâm tặc ngày đêm trộm cắp; anh bí thư chi bộ thôn lên tiếng ngăn chặn bọn chúng thì bị chúng trả thù, chặn đánh giữa đường đến phải nhập viện. Lời nghèn nghẹn và chùng xuống của H’Thuận làm tôi cũng thấy bồi hồi, trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và từng chi bộ, từng cán bộ thôn buôn nói riêng là vận động đồng bào cùng chung tay giữ rừng; nhưng bọn lâm tặc manh động hoành hành, thì việc giữ rừng chắc chắn còn nhiều cam go thử thách và rất cần các cơ quan chức năng cùng chung sức cùng làm.
Buôn M’Um, vẫn chỉ một con đường duy nhất chạy từ hướng tây qua đông đến buôn và hai bên đường là những ngôi nhà sàn dài lợp ngói, lợp tôn thay cho mái lá mây, cỏ gianh thuở trước. Buôn vẫn rất sạch sẽ vì vắng bóng heo thả rông và rất ít gà. Quanh các mái nhà sàn ấy bóng cây xoài, cây mít trĩu quả đứng khoe sắc. Một số gia đình đã có chuồng nuôi bò làm xa nhà, đảm bảo vệ sinh. Già làng Y Gút nói với tôi: Gần một nửa các hộ trong buôn có xe máy, cánh thanh niên thì nhiều đứa có di động, nhà nghèo cũng có một hai con bò, nhà khá hơn có 5 con. Các cháu đến tuổi được đến lớp đi học chữ, phong tục cúng bến nước hằng năm vào ngày mùng bốn tháng một vẫn duy trì thường xuyên; mọi người bảo nhau sống hòa thuận, thế là vui rồi.
Người dân trong buôn M’Um họ có cuộc sống rất riêng, không sôi động ganh đua làm giàu, tìm cách làm giàu như những người trong vùng; họ bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Một vùng quê thanh bình, êm ả đến khác lạ. Núi Chư Pal cao lắm, rộng lắm, nó là dãy Chư Yang Sin kéo dài ra; nhưng dù cao, dù rộng đến đâu cũng có giới hạn nhất định, nếu ta không biết gìn giữ., bảo vệ thì rừng sẽ mất đi. Rừng mất đi, các dòng suối sẽ khô cạn, và nước sẽ không còn thì lấy đâu ra bến nước để thờ cúng. Cái lý lẽ đó của người Êđê nơi đây quả thật rất đáng để suy nghĩ. Mong sao những người dân buôn M’Um sẽ biết làm giàu một cách chính đáng, nhưng vẫn giữ được rừng, giữ được nét văn hóa đặc trưng tuyền thống dân tộc của người Êđê để lưu lại cho các thế hệ sau, điều đó qúy giá lắm. Chúng ta hy vọng như thế!




SỐ 263 - tâc giả NGUYỄN LIÊN



XỨNG ĐÁNG VỚI TRUYỀN THỐNG
BUÔN TRƯNG CÁCH MẠNG
Bút ký


Trong lịch trình công tác của Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Đắk Lắk có chương trình vào buôn cách mạng. Bởi buôn đồng bào Êđê nằm khuất trong chân núi Chư Yang nên tôi chọn là điểm đầu tiên để đến. Với kinh nghiệm của người làm báo, thường thì những nơi khó khăn là những nơi có nhiều tư liệu quý để viết. Biết thế, số anh em nghệ sĩ nhiếp ảnh cũng muốn đi cùng để tìm cảm hứng nơi đại ngàn. Ừ thì đi. Đi thực tế mỗi người, mỗi chuyên ngành có cách lấy tư liệu riêng, trùng nhau đâu mà lo. Vậy là sáng sớm, chúng tôi cho xe khởi hành từ thị trấn trung tâm huyện Ea Kar. Dù bon bon đường nhựa nhưng phải đến hơn hai tiếng đồng hồ chúng tôi mới tới trung tâm xã. Theo lời giới thiệu của Chủ tịch UBND xã Cư Yang, tôi được biết trong cái buôn Trưng dặt có người Êđê, là buôn căn cứ cách mạng dù còn nhiều khó khăn nhưng lại có chị H’Lanh Byă, hiện đang làm Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, và là một phụ nữ Êđê làm kinh tế giỏi.
Buôn Trưng có 161 hộ với 674 nhân khẩu. Từ trung tâm huyện Ea Kar vào tới buôn Trưng theo bảng tính đường đi về các xã của huyện là tám mươi cây số. Đường nhựa trải bóng láng đến buôn, điện sáng kéo đến từng nhà. Nghe nói thời kháng chiến, cái buôn dưới chân núi Chư Yang heo hút này là rừng già, những ngôi nhà sàn lợp lá thấp thoáng thưa thớt dọc hai bờ con sông Krông Pắc chảy qua. Bên kia núi Chư Yang là đất cách mạng Cư Pui, Yang Mao của huyện Krông Bông anh hùng. Nay buôn Trưng hầu như vắng bóng nhà sàn, nhà dài, thay vào đó là những căn nhà xây. Mừng thì mừng đấy, nhưng trong tổng số 161 hộ còn tới 90 hộ nghèo, nghĩa là hơn 50%. Nguyên do gì mà một buôn cách mạng được hưởng thụ nhiều chương trình chính sách của Đảng, Nhà nước mà vẫn còn dừng lại ở con số chậm phát triển vậy. Dù ở cái buôn Trưng đó lại nổi lên một nhân vật đã làm sáng danh vùng đất cách mạng.
Tôi sốt ruột muốn vào ngay buôn Trưng để gặp nhân vật nổi danh về làm kinh tế giỏi. Chủ tịch xã Nguyễn Văn Vỹ cho biết hôm nay cô H’Lanh báo cáo nghỉ công sở, ở nhà, đang vào vụ chăm sóc mía. Tôi nhìn đồng chí cán bộ văn hoá xã cầu cứu, đồng chí này lấy điện thoại ra bấm, biết được H’Lanh mới từ rẫy mía về, anh cán bộ văn hoá xã nổ máy xe lao đi, rất nhanh nhẹn. Lát sau, có cô gái ngồi sau xe hon đa của anh cán bộ văn hóa xã ra trung tâm buôn gặp chúng tôi. H’Lanh nhìn già dặn hơn cái tuổi 33 của chị, một con người bản lĩnh, tiếp xúc là thấy sự quả quyết trong lời nói, giống như cái mạng tuổi Tân Dậu (1981) của chị, gà tự kiếm ăn, tự lo lấy cuộc sống của mình chứ ai mang sẵn đến cho mà chờ đợi. Chỉ có điều hôn nhân trắc trở, cô gái Êđê nhanh nhẹn, đôn hậu đã phải làm lẽ một người đàn ông đã có hai con. Thế nhưng Yàng đã thương người phụ nữ có chí khí tự vượt lên trong cuộc sống góp phần nuôi hai đứa con riêng của chồng hiện nay một vào đại học, một học lớp mười một, thêm hai đứa con chung nữa còn nhỏ. Để có điều kiện nuôi con ăn học, ngoài buổi đi làm công sở với vai trò Phó chủ tich HĐND xã, về nhà H’Lanh lại xắn tay chăm sóc 11 hecta mía, 3 sào lúa nước. Dù giỏi giang đến đâu thì từng ấy diện tích với bàn tay lao động chai sần cũng đủ làm cho vợ chồng H’Lanh đầu tắt mặt tối. Nhưng đất không phụ công người, theo giá thời điểm hiện nay 800.000đ một tấn mía, mỗi hecta thu hoạch 80 tấn. Mà gia đình chị có 11 hecta, mỗi vụ đã cho hơn 700 triệu đồng. Có tiền, H’Lanh bàn với chồng mua máy cày làm thay sức người. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn, chồng H’Lanh nghe có lý, dù gia đình còn nhiều thứ phải lo, nhưng vợ chồng đã ưu tiên thực hiện kế hoạch “cơ giới hoá” của vợ đề ra. Vậy là năm 2013, vợ chồng H’Lanh mua chiếc máy cày lớn trị giá 310 triệu đồng. Chồng H’Lanh trở thành người lái máy. Có chiếc máy cày thay sức người cày cuốc, ngoài ra cày xới giúp bà con trong buôn. Không cần sổ sách, H’Lanh tính nhẩm cho tôi thấy, năm 2013 nguồn thu từ 11 hecta mía, 3 sào lúa và máy đi cày xới thuê, trừ chi phí thuê công làm cỏ, thu hoạch mía, dầu máy, phân bón… gia đình còn thu về 500 triệu đồng.
Các nghệ sĩ nhiếp ảnh tỏa đi tác nghiệp, những người viết văn chúng tôi theo chân chị H’Lanh về nhà để “mục sở thị” cái cơ ngơi của người làm kinh tế giỏi nhất buôn, vang tiếng khắp xã này. Tôi rất tò mò về cái khoản nguồn thu trong năm của gia đình chị hơn 500 triệu đồng khiến nhiều người mơ ước, mà H’Lanh cứ tỉnh bơ. Cô giải thích, làm cày xới cho bà con trong buôn chủ yếu giúp họ, chứ công cán làm đầu mùa cứ phải đến cuối mùa thu hoạch mới có người trả công bằng tiền hay sản phẩm. Ấy thế nhưng cái máy đi cày thuê năm vừa rồi tính ra cũng có được hơn 40 triệu cộng vào tổng nguồn thu các loại. Bây giờ gia đình H’Lanh lại còn làm thêm đại lý cung ứng phân bón gọi là chủ động nguồn phân bón kết hợp phục vụ cho đồng bào trong cái buôn xa trung tâm này. Ngôi nhà H’Lanh đang còn là nhà xây cấp 4, trước hè là những chồng bao phân bón, trong nhà những chồng bao cà phê hạt, bao bắp… Trước sân chiếc máy cày sừng sững đứng choán hết mặt tiền. Đúng là H’Lanh đã tính ưu tiên mua máy cày để phục vụ sản xuất, nên nhà cửa tính sau. Nhưng nhìn những thứ bày ra trước mắt đủ thấy một sự bền vững của một gia đình hoà thuận. Theo phong tục mẫu hệ của người Tây Nguyên, người phụ nữ có vai trò quyết định mọi việc trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng có được tư duy như H’Lanh. Còn nhớ có lần tiếp xúc với Ama Bôk, là một điển hình làm kinh tế giỏi ở Cuă Đăng, huyện Cư M’gar, tiếp xúc với một người Êđê làm kinh tế giỏi, tôi cứ day dứt mãi. Đó là thời điểm cà phê rớt giá chỉ hơn 2 ngàn đồng một ký cà phê nhân, nhưng Ama Bôk thản nhiên tính toán trong đầu bấm ngón tay nói với tôi: “Đây là thời điểm cà phê rớt giá thấp nhất, tôi tính trừ chi phí thuê công làm cỏ, làm cành, công thu hoạch, dầu chạy máy tưới, phân bón… tính kỹ ra mình vẫn còn được một nửa, không lỗ. Nhiều nơi thấy cà phê xuống giá thì phá bỏ trồng cây khác, nhưng không ở đâu đất hợp với cây cà phê như ở Đắk Lắk. Mình đừng nên phá đi cây truyền thống, chặt thì nhanh, nhưng trồng lại thì lâu…”. Sau đó  thì giá cà phê lên lại thật. Cái tôi muốn nói ở đây là tư duy của một người biết làm theo kế hoạch, biết nhìn xa trông rộng mà chủ động sản xuất, giá xuống rồi giá lại lên thôi. Ama Bok nói tiếp “Đa số người dân tộc Tây Nguyên biết ngày nay không biết ngày mai, đàn ông chỉ giỏi uống rượu, đàn bà gặp đâu làm đấy, nhiều người bán cà phê non đi để ăn, để uống, đến mùa trả nợ là trắng tay lại phải đi làm thuê, vậy thì làm giàu sao được!...”. Tôi ngồi nghe Ama Bôk nói mà không khỏi ngạc nhiên, thán phục; bởi tôi cũng đã từng gặp cái cảnh người phụ nữ Êđê đem một lon gạo ra tiệm tạp hóa đổi một lon trái ớt xanh về ăn. Trong khi đất vườn đất rẫy để cỏ mọc hoang, lúc đó trong đầu tôi tự đặt câu hỏi: “Đất có nhiều, kể cả trồng ớt quanh nhà cũng có cái ăn quanh năm, sao lại phải đem gạo đi đổi, không biết do không có kế hoạch làm ăn hay sống tuỳ tiện có hôm nay không cần biết ngày mai như Ama Bôk nhận xét?”. Nhưng có một điều chắc chắn, là tất cả các buôn đồng bào dân tộc tại chỗ tỷ lệ hộ đói nghèo nhiều hơn những nơi khác.

Được biết buôn Trưng từng được tỉnh, huyện quan tâm ưu tiên đầu tư các chương trình dự án theo chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào buôn cách mạng, vậy nhưng như hạt muối bỏ biển. Cái quan trọng là ý thức của đồng bào phải tự đổi mới tư duy như H’Lanh thì may ra cuộc sống mới được cải thiện. Lúc này trong tôi bỗng hiện lên hai hình ảnh trái ngược nhau trong cùng một môi trường sống, chỉ bên kia con đường nhựa trước mặt nhà H’Lanh chiếc máy cày đỏ chói sừng sững một niềm tự hào và đầy hứa hẹn cho cuộc sống thịnh vượng, thì bên kia, một ngôi nhà sàn cũ kỹ, một người phụ nữ Êđê mặc váy nhàu nát địu đứa bé trên lưng đi về phía mấy người vừa đi rẫy về hạ những chiếc gùi trên vai xuống lấy ra những ngọn rau rừng, những cái măng le bé xíu. Mấy tay nghệ sĩ nhiếp ảnh về tới, họ vội vàng bố trí chị H’Lanh mặc váy dân tộc đứng trước chiếc máy cày để chụp những hình ảnh hiện đại, rồi vội vã chạy qua nhà đối diện chụp những bộ mặt lem luốc của mấy đứa trẻ. Các em đâu có lỗi, nhưng những người làm cha mẹ nghĩ gì về tương lai của những đứa con của mình khi họ còn chưa nghĩ đến lòng tự hào trách nhiệm công dân sao cho xứng đáng với truyền thống lịch sử của buôn buôn Trưng cách mạng.

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

SỐ: 263 - tác giả ĐẶNG BÁ TIẾN

Tác giả Đặng Bá Tiến


Viết trên đồng Ea Kar


Đêm Ea Kar nghe câu dân ca
ai thả trên đồng như mật ngọt
trăng sà thấp ngỡ giơ tay chạm được
gió như em êm ả dịu dàng

Người thả dân ca thả cả nỗi mơ màng
vào trái tim tôi đa sầu đa cảm
giọng sông Trà hay sông La mà lai láng
như có keo bịn rịn trái tim người

Đồng quê đêm quyến rũ cả mây trời
thành voan mỏng khoác hờ trên thảm lúa
đang ở Ea Kar mà tôi ngỡ
dạo bước cùng em trên châu thổ sông Hồng

Lúa tốt bời bời lúa trải mênh mông
Bắc ưu, Nhị ưu… tỏa hương thơm ngát*
phải hương lúa và dân ca dào dạt
nên trăng đắm say sà thấp bạn bầu?

Đói nghèo đã qua, giờ đến lúc làm giàu
hạt lúa, con bò trở thành thương hiệu**
đất cát sỏi Ea Kar cũng làm nên kỳ diệu
để người bốn phương náo nức tìm về

Ea Kar bây giờ là đất của yêu, mê!

15.6.2014



(*): Tên các lại lúa giống (F1) được sản xuất tại Ea Kar
(**): Lúa giống (F1) và “Bò thịt Ea Kar” là 2 sản phẩm đã trở thành thương hiệu nổi tiếng của huyện Ea Kar.


Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

SỐ 263 - tác giả NGUYỄN HOÀNG THU

Tác giả NGUYỄN HOÀNG THU


TRÊN VÙNG ĐẤT EA KAR
                                                                                                Bút ký

Ea Kar, vùng đất lên màu sự sống tốt tươi lại hiện ra trước mắt tôi. Một Ea Kar hoàn toàn đổi mới; từ đường phố thị trấn huyện lị sầm uất đông vui với những tòa nhà khang trang cùng những cửa hàng bóng bẩy đêm ngày bày bán đủ đầy các loại sản phẩm tiêu dùng..., cho đến những con đường nhựa nông thôn mở rộng đi về các xã gần xa, đó đây không còn lồi lõm nắng bụi mưa bùn. Tất cả đang hình thành dần diện mạo đời sống nông thôn mới lồng lộng màu xanh các loại cây nông nghiệp và công nghiệp cho thu hoạch đầy đặn trên diện tích hơn 68.000 hec ta, riêng tổng sản lượng lương thực năm 2013 đạt 145.000 tấn, hứa hẹn tăng lên 163.500 tấn trong năm 2014. Bên cạnh đó, diện tích các loại cây lâu năm: cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, ca cao của những trang trại lớn nhỏ và vườn nhà người dân, bước sang năm 2014 có khả năng tăng lên 17.000 hecta, là nguồn thu lớn đáng kể; hàng năm lại có gần 20.000 hecta: mía, sắn...cho sản lượng cao trên đất màu bazan, từ đó huyện này đã có một nhà máy chế biến đường kết tinh đạt sản lượng 37.600 tấn/năm và một nhà máy tinh bột sắn sản xuất được 36.000 tấn/năm. Một Ea Kar hôm nay tỏ rõ niềm vui sống, dù còn nhiều điều phải làm cho ngày mai tốt đẹp hơn, trước mắt đã điểm tô khuôn mặt người cười cùng ngàn cây xanh tươi, hân hoan từng mùa thu hoạch, mua sắm thêm tiện nghi phục vụ đời sống gia đình. Nhiều năm qua, đường dây điện đã kết nối ánh sáng vào mọi nhà tận các xã vùng sâu vùng xa, cách thị trấn huyện lị 40-50 km, như xã Cư Prông, Cư Elang, Cư Bông bên dãy núi Cư Pah và Cư Yang. Một Ea Kar hôm nay rộn ràng niềm vui từng bước chân tuổi thơ thanh thản đến trường; từ mầm non cho đến các cấp học hiện nay, tại 14 xã và 2 thị trấn của huyện này có tất cả 81 ngôi trường, trong đó có 29 trường đạt chuẩn quốc gia. Mỗi năm có hàng ngàn học sinh bước vào các trường đại học trong tỉnh và trong nước. Một Ea Kar nhiều đổi thay cả vật chất và tinh thần, được hun đúc từ bàn tay trí tuệ nhân dân đồng tình quyết tâm cùng cán bộ các ngành các cấp đã làm nên cuộc sống mới sinh động hôm nay, trên vùng đất rộng từ bao đời chỉ có đất trống và rừng hoang…
*
Huyện Ea Kar được thành lập từ năm 1986, một vùng đất rộng hơn 100.000 hecta thuộc tỉnh Đắk Lắk, có sông Krông Păk từ thượng nguồn núi cao Cư M'Drăk chảy qua cùng mấy mươi con suối hợp lưu thành dòng nước lớn tắm đẳm đất đai ruộng đồng cho các loại cây trồng và hoa màu lên xanh. Đến nay, vùng đất này có hơn 150.000 người dân, đa số là người Kinh và người dân tộc thiểu số từ các tỉnh miền Bắc đến lập nghiệp. Người bản địa Êđê trước sau chỉ có 29 buôn làng trong số 247 thôn buôn của huyện, từ bao đời sống an cư tại các xã mang tên sông suối núi rừng của vùng đất Tây Nguyên thân yêu.
Ngày đầu tiên tại huyện Ea Kar, tôi đến xã Cư Bông bên suối thác đẹp D'Rây Pơ hãy còn hoang sơ, thả dòng nước len lách dưới chân dãy núi Cư Yang. Xã Cư Bông có 12 thôn buôn, gồm 1.450 gia đình, đa số là người dân tộc thiểu số từ các tỉnh phía Bắc đến tìm đất sống, chỉ có 4 buôn người bản địa Êđê; cuộc sống của xã mới thành lập hơn 10 năm qua hãy còn hơn 37% hộ nghèo, đáng quan tâm là các buôn làng người Êđê, phần đông còn nghèo khó hơn. Tôi không thể không nghĩ đến buôn Trưng gần căn cứ kháng chiến đã qua, với số dân 674 người mà nghèo khó hiện nay có đến 60%, là chênh lệch quá lớn khi nghĩ đến toàn huyện Ea Kar chỉ có 10% hộ dân nghèo, trong đó, Ea Ô là xã điểm nông thôn mới ở phía đông-nam gần trung tâm huyện chỉ còn 6,5% hộ nghèo. Làm sao để sớm xóa bỏ tình trạng nghèo khó ở các xã cách xa trên vùng đất huyện Ea  Kar là điều đáng quan tâm và đang quan tâm của các ngành các cấp cùng sự nỗ lực chăm lo hơn của người dân nghèo trên từng thước đất vườn cây ruộng đồng...
Tại buôn Trưng xã Cư Bông cũng có nhiều gia đình làm kinh tế giỏi. Nổi bật nhất là chị H'Lanh Byă, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã cùng chồng là anh Lê Hoàng Lâm, cả hai người đồng tâm quyết chí khai khẩn đất hoang, không chịu dừng lại với 3 sào lúa nước thâm canh mỗi năm 3 vụ hơn 10 tấn lúa, nhiều năm qua đã ra sức mở rộng được 11 hecta mía bên hồ buôn Trưng. Một con số biết nói biết cười nở rộ ra trên ruộng đồng mía rộng của vợ chồng chị H'Lanh Byă, đã cho thu hoạch 800-900 tấn/năm; trừ chi phí sản xuất ra, mỗi năm gia đình chị còn lại 400-500 triệu đồng, là con số ước mơ đã lường trước được từ quyết tâm và tính toán của hai vợ chồng. Thêm niềm vui nữa, con gái lớn của đôi vợ chồng người Êđê và người Kinh ở buôn Trưng xã Cư Bông này đang là sinh viên Đại học Khoa học xã hội và nhân văn tại thành phố Hồ Chí Minh. Niềm vui của gia đình H'Lanh Byă đã lan truyền sang tôi với ước mong sao những tháng năm sắp tới có thêm nhiều gia đình người dân xã Cư Bông đạt được cuộc sống vui tươi đủ đầy...
Thêm một ngày tôi đến buôn làng M'Um tọa lạc êm đềm cuối xã Cư Prông có dòng suối Ea Sal chảy dài theo chân dãy núi Cư Pah. Buôn trưởng Y Bhăn Byă và vợ là H'Thuận Niê cùng niềm nở tiếp khách trên căn nhà sàn rộng dài giữa bốn bề vườn cây xanh đang mùa ra quả. Khuôn mặt buôn trưởng đẹp rắn rỏi của người bản địa Êđê ngồi đối diện tôi, bên cạnh người vợ luôn lộ nét vui hồn hậu dịu dàng.
- Buôn M'Um còn khó khăn, có 40 căn nhà sàn dài dựng lên đều đặn hai bên đường, chỉ có 197 người dân mà có đến 90 người nghèo. Diện tích lúa nước, thì ít thôi, chỉ có 12 hecta, còn lại là bắp; sắn thì có nhiều hơn, 20 hecta, và trồng thêm mía, được 5 hecta, anh ạ! Bấy nhiêu đó thôi, cũng đủ sống qua ngày; không có ai đói đâu!
Buôn trưởng Y Bhăn Byă nói cho tôi nghe bằng giọng chân chất thật thà, không lộ chút gì buồn khi mời tôi uống nước. Trong giây lát tôi nghĩ: người Êđê cũng như bao người dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên, sống là sống vui cùng thiên nhiên, đủ thôi là được, không nặng nề bon chen... Sau lời nói của chồng, chị H'Thuận Niê, chủ tịch phụ nữ xã nói, giọng tâm tình: "Hàng năm, đến ngày 4 tháng 1, buôn M'Um vẫn còn giữ tục cúng bến nước tại suối Ea Sal; mọi người đều có mặt từ buổi sáng, đông vui và đoàn kết, cùng nghe tiếng cồng chiêng và uống rượu cần; sau đó, buổi trưa thì cùng về nhà già làng Y Gút Byă, tỏ rõ tình ý biết ơn bến nước, cầu mong cuộc sống yên vui, nhắc nhở tình đoàn kết yêu thương giữa mọi người trong buôn làng; và, trong niềm vui mừng ngày cúng bến nước, thiêng liêng và thân ái ấy, trên căn nhà sàn dài rộng của già làng lại tổ chức ăn uống bên tiếng nhạc cồng chiêng cộng hưởng tâm tình người và sông núi kề cạnh buôn làng..."
Rời xa M'Um, buôn làng còn nghèo mà thủy chung tình người, trên đường về đến thị trấn huyện lị Ea Kar sáng ánh đèn đêm nhộn nhịp người xe quán xá nhà hàng, vẫn còn đeo đẳng trong tôi tình cảm trân trọng quí mến những khuôn mặt người Êđê chân thật, giàu lòng yêu thiên nhiên và con người. Bằng những nghĩ suy thực tế và mới mẻ hơn, mong sao những tháng ngày không xa, buôn M'Um thêm bàn tay mở rộng thêm đất màu trồng trọt, chăn nuôi, cùng các thôn làng của xã Cư Prông nâng cao mức sống hơn, không còn là xã nghèo nhất của huyện Ea Kar...
*
Một niềm vui trọn vẹn trong tôi khi đến xã Ea Ô, chỉ cách xa huyện lị Ea Kar hơn 10 km. Dòng sông Krông Păk chảy ngang qua xã này nhiều năm qua tắm tưới thêm phù sa cho ruộng đồng lúa vườn cây xanh các loại của vùng đất rộng hơn 5.500 hecta, đem lại sự sống vững vàng cho hơn 11.000 người dân các dân tộc: Kinh, Mông, Thái, Dao, Tày, Nùng, Mường, Vân Kiều... từ các tỉnh phía Bắc đến lập nghiệp, đa số là người Kinh quê quán ở Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình... Xã Ea Ô được thành lập từ đầu năm 1994, hiện là xã khá nhất của huyện Ea Kar, mỗi năm đều  tăng trưởng giá trị kinh tế, bình quân thu nhập năm 2013 vừa qua của một người là 21,3 triệu đồng, đến nay chỉ còn 6,5% gia đình nghèo, hứa hẹn trong năm nay sẽ giảm thêm nữa. Tiêu biểu về những người sản xuất giỏi của xã Ea Ô hiện nay là bà Lê Thi Ký ở thôn 8, chuyên ươm các loại cây giống: cà phê, điều, cao su, các loại cây ăn quả, thu nhập bình quân 500 triệu đồng/năm, đã sẵn lòng dành 50 triệu đồng làm từ thiện giúp đỡ các gia đình nghèo; bên cạnh đó, vườn tiêu thâm canh hơn 1 hecta của ông Vũ Thanh Bình ở thôn 2 đã đem lại 500 triệu đồng trong năm qua. Điều đáng nói nữa, người dân xã này cùng đồng tình xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn, tự nguyện đóng góp công sức đất đai hoa màu và tiền bạc chung vào ngân sách nhà nước, mở rộng những con đường nhựa và bê tông nối liền thôn xóm với chiều dài hơn 90 kilômét. Trong số 2.770 hộ dân đã có gần 1.900 căn nhà xây kiên cố, tọa lạc khang trang bên những con đường liên thôn liên xã, không còn nhà tạm bợ giữa một vùng đất luôn xanh màu lúa, ngô, sắn, vườn cây ăn quả cùng các loại cây công nghiệp lâu năm: cà phê, ca cao, đào lộn hột và cao su. Vui biết mấy khi thấy mỗi thôn làng có 5-7 sân bóng chuyền, lại thêm dự tính đến năm 2015 sẽ hoàn thành công trình nhà văn hóa và khu thể thao xã Ea Ô. Trên địa bàn xã có một khu thương mại bày bán đầy đủ tiện nghi đời sống, có cả cửa hàng tivi, tủ lạnh, nồi cơm điện, bếp gas...và dịch vụ sửa chữa điện máy dọc dài hai bên con đường nhựa gần trung tâm xã, thuận lợi cho người dân có nhu cầu mua sắm không phải đi xa đến thị trấn.
Khuôn mặt bí thư Đảng ủy xã, Vũ Quang Đôn và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, Nguyễn Minh Chuyền cùng hiện rõ niềm vui khi nói với tôi trên đường đến thăm một ngôi trường tiểu học: "Ở Ea Ô hiện nay tất cả các cháu đến tuổi học hành đều đến trường; xã có 2 trường mầm non, 3 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở, tất cả đều sạch đẹp khang trang... Chất lượng giáo dục hàng năm đều tăng lên, đa số học sinh đạt khá giỏi, có 3 trường các cấp của xã đạt chuẩn quốc gia... Tại trường tiểu học Lê Văn Tám, có cháu gái Trần Thu Diễm học sinh lớp 5 vừa đạt học sinh giỏi cấp quốc gia về môn tiếng Anh vào cuối tháng 4 năm 2014, là niềm vui của xã nhà..."
Niềm vui của xã Ea Ô, của huyện Ea Kar trong cuộc sống mới đã lan truyền sang tôi để tin tưởng hơn về tương lai của vùng đất này; đất đai luôn xanh màu tốt tươi các loại cây trồng, bên cạnh ao hồ thả cá và chuồng trại chăn nuôi phát triển thêm lên; tất cả nhờ bàn tay trí tuệ người dân thuận tình cùng chủ trương của nhà nước. Một vùng đất rộng, có sức mạnh nhân dân tự tin tự chủ; dân tin cán bộ và cán bộ quan tâm gần gũi dân như là một, có chung hướng nhìn về tương lai, sao cho không còn ai nghèo khó... Những ngày đi đó đây trên vùng đất Ea Kar, đã cho tôi thấy rõ, huyện miền núi cao nguyên Đắk Lắk này của Trường Sơn-Tây Nguyên sẽ còn phát triển hơn nữa; màu xanh sự sống không chỉ là vườn cây, đồng lúa, nương ngô mà còn là niềm vui xanh màu tốt tươi trong nghĩ suy cảm thụ những giá trị văn hóa tinh thần, người người đến với nhau trong tình thương yêu hơn...Có được như thế, người người trên vùng đất Ea Kar này sẽ cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn, đáp đền được ơn nghĩa của rừng... Lặng lẽ cam chịu, từng tháng năm qua từng cánh rừng nguyên sinh đã mất đi cho từng vườn cây, ruộng đồng lên xanh; rừng đã hào phóng cho người sự sống đủ đầy, tốt tươi lâu dài trên vùng đất Ea Kar một thời bạt ngàn rừng cây xanh. Rừng hy sinh nhan sắc cho vẻ đẹp đời sống con người luôn tươi tắn sinh động sắc màu...
                                           
Buôn Ma Thuột, ngày 27-6-2014.


Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

SỐ 263 - tác giả TIẾN THẢO

Tác giả TIẾN THẢO

Chút tình thác bay

Cầm tay…
Em lại níu tay
Leo lên dốc đá Thác Bay
Cũng liều!

Ea Sô bí mật bao điều
Cánh chim khát vọng
Giữa chiều bay lên
Con nai tác ở rừng bên
Hồn bâng khuâng
Chân dẫm lên thu vàng!

Ta người băng bưởi trần gian
Em dòng thác đổ
Mang mang nỗi sầu
Về đâu?
Thác đổ về đâu?
Đừng như Chức nữ
Qua cầu nắng mưa!

Thác Bay
Vang vọng tình xưa
Cầm tay em
Lại như vừa biết yêu…


* Thác Bay ở Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô

SỐ 263 - tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN

LTS: Từ ngày 10 – 17.06.2014 Hội văn học nghệ thuật Đắk Lắk tổ chức Trại sáng tác VHNT (đợt 1-2014); có 14 hội viên thuộc các chuyên ngành văn học và nhiếp ảnh tham dự. Tạp chí Chư Yang Sin số này xin giới thiệu một số bài thơ, bút ký, ghi chép được việt “tốc hành” trong thời gian dự trại của một số hội viên. Để giành “đất” cho trang chuyên đề này, chúng tôi rút bớt nội dung của một số chuyên mục đã quen thuộc với bạn đọc. Mong bạn đọc thông cảm.

BBT

Tác giả NGUYỄN VĂN THIỆN



NHỮNG ĐÔI MẮT EA KAR

Bút ký


Chúng tôi về lại Ea Kar vào những ngày chớm mùa mưa. Mưa như một chiếc đũa nhiệm màu trong cổ tích, đánh thức những mầm xanh trong đất, bung nở rạng ngời. Tảng sáng, vòm mây mọng nước chùng chình đậu trên tán rừng Ea Sô xanh ngời ngợi, như thể chỉ cần một câu hát airay quen thuộc cất lên là sẽ vỡ ra thành muôn ngàn giọt mưa ấm áp, và cuộc sống mới bắt đầu sinh sôi.
Với tôi, Ea Kar vốn không nhiều duyên nợ, sao vẫn cứ nặng lòng thương mến! Tôi đã từng đặt dấu chân của mình vào cuối Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô cách đây ngót nghét 10 năm trước, khi câu chuyện về bò xám, trâu rừng còn nóng trên các  trang báo. Quốc lộ 26 đến giờ vẫn thế, uốn khúc giữa muôn trùng đồi núi, muôn trùng nương rẫy như bằng chứng về một sự đợi chờ chung thủy. Ea Kar nằm giữa lưng chừng đèo núi, lưng chừng dốc, e ấp vẻ đẹp xuân thì.
Đã không còn nhớ được đây là lần thứ mấy, tôi ngồi bên vỉa hè con dốc nghiêng nghiêng qua thị trấn, nhâm nhi ly cà phê nóng hổi mà thả hồn đi theo mây trắng, đi vào tận những cánh rừng Cư Bông hay Ea Knốp. Thật ra, so với các địa phương khác trong tỉnh Đắk Lắk, số lượng người đồng bào bản địa không nhiều, chỉ còn 29 buôn trong tổng số 247 thôn buôn của toàn huyện. Những buôn làng người Êđê ít ỏi ấy lại chọn cho mình một vị trí khiêm nhường, nép mình vào bên trong những vách núi Cư Hu, Cư Prông, Cư Elang xanh lặng lẽ. Vì thế, dù tôi đã gắng chờ, vẫn không hề thấy một đôi mắt màu thổ cẩm đi qua phố huyện chiều nay…
Chúng tôi phải rong ruổi, đuổi theo gió, theo mây trời, để đi tìm một đôi mắt màu thổ cẩm tin yêu. Và chúng tôi phải vượt gần 20 cây số từ thị trấn huyện hướng vào chân núi Cư Prông để đi tìm. Buôn M’Um nằm ngủ quên trong làn mưa bụi buổi sáng, chừng như đã chờ tôi từ lâu lắm. Bốn chục nóc nhà ấy, sau bao nhiêu đổi dời dâu bể, đã  lùi về bên núi, để giữ cho mình một nét duyên xưa cũ.
Tôi ngồi giữa gian khách nhà buôn trưởng YBhăn Byă, tự thưởng cho mình một giây phút nghỉ ngơi dưới chân núi màu xanh trùng điệp, nhắm mắt lại, nghe câu chuyện miên man giữa chủ nhà với cô phóng viên người bản địa nói tiếng Êđê như gió chảy mây trôi. Họ đang nói về con suối nào đó trong chân núi, có tên là Ea Sal, về lễ cũng bến nước hàng năm để tạ ơn Yàng nước, về những chiêng núm chiêng bằng mang từ nhà văn hóa huyện về mà chưa ngân vang được qua chín suối mười đèo, về những đứa trẻ sinh ra là để làm bạn với nương rẫy và dốc núi, bỏ ngang con chữ, quên niềm vui đến lớp đến trường…
Gần 20 năm ngụ cư Tây nguyên, tôi đã bao đêm nằm ngủ nhà dài, bao buổi chiều ngồi ghé cầu thang mà nghe những nỗi niềm của bà con gửi gắm trong những câu chuyện bất tận bên bếp lửa. Buổi sáng nay, không bếp lửa, ngoài kia mưa như rây bột, những mẩu đối thoại miên man lại nhắc tôi về đôi mắt màu thổ cẩm đã ám ảnh mười mấy năm nay. Tiếng trái cây rụng lộp độp trên mái nhà đánh thức, tôi mở mắt ra. Buôn trưởng YBhăn vẫn ngồi đó, cường tráng, chắc chắn như một cây thông lớn trên đỉnh Cư Prông, đôi mắt thẳm sâu nhìn vào khoảng không trước mặt.
Đôi mắt này, ánh nhìn này, quen lắm lắm…
Tôi biết, có những điều chưa vui nhưng không thốt thành lời, nên đôi mắt nói dùm trong im lặng. Núi Cư Prông như một vết cắt lên bầu trời thăm thẳm những liên tưởng rời rạc, núi, mưa, buổi sáng, và đôi mắt màu thổ cẩm… Núi giống núi, mây giống mây, mưa giống mưa, đôi mắt giống đôi mắt, có thật vậy không?
Có những ánh nhìn không bao giờ quên được!
Kỳ lạ, những ngày ở đây, tôi lại bị ám ảnh bởi câu chuyện của những người từ xa đến, như một sự tình cờ đầy sắp đặt của số phận. Đôi mắt của Vàng Thị Mến, một đứa con của người H’Mông lưu lạc từ cao nguyên đá phía bắc, đến Ea Kar, như một sự đánh cược đầy may rủi. Mến học lớp 3 ở một ngôi trường heo hút bên bìa rừng Ea Sô. Mến rụt rè viết vào sổ tay của tôi họ và tên của mẹ mình bằng nét chữ xiêu vẹo: Sùng Thị Tóng!
Gia đình người H’Mông ấy, như những cánh chim phiêu bạt, vượt hơn 2.000 cây số để đến với Tây nguyên, đến với cánh rừng này. Vàng Seo Chín, trưởng buôn Ea Púk giãi bày: Cũng là mưu sinh, đất Tây nguyên màu mỡ, nhưng cũng không hẳn là dễ dàng… Tôi biết nói gì hơn, trước những cánh chim phiêu bạt, trước đám mây màu trắng xám đang lặng lẽ bò đi trên những cánh rừng Ea Sô, trong cuộc lữ hành đầy nước mắt? Với Tây nguyên, tôi cũng chỉ là một người từ xa đến…
Tôi nằm ngủ quên trên tảng đá phẳng lỳ giữa lòng suối trong Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, trên đầu, mây trắng vẫn còn bay. Trước mắt tôi rõ ràng là chiếc đầu bò rừng với đôi mắt to khắc khoải kinh hoàng. Chiếc đầu bò ấy, sáng hôm qua, ông Bùi Đình Kính, Hạt phó Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô chỉ cho tôi thấy, nó được đóng lên tường, là tang vật của một vụ săn bắn trộm diễn ra đã từ lâu trên địa bàn. Những đôi mắt của sừng già bị cái chết đóng đinh lên tường, như một sự mặc định của số phận!
Tôi nhắm mắt lại, sắp đặt lại từ đầu, nhớ thương lại từ đầu: Đôi mắt của YBhăn Byă, ánh nhìn của bé Vàng Thị Mến, đôi mắt chú bò rừng, vẫn ám ảnh, như một lời nguyền của những thân phận nhỏ nhoi đi tìm và nâng niu hạnh phúc giữa đại ngàn…
Mà tít trên đầu ngọn núi, mây vẫn trắng như không.
Rồi thì tim lạnh, rồi thì tay mỏi, rồi thì chân run, tôi từ giã Ea Kar bằng cái siết tay rất chặt, như những người thân yêu nhất tiễn nhau đi. Vầng mây trắng như một lời tiễn đưa đầy lưu luyến. Rồi sẽ còn gặp lại, nhé, YBhăn Byă, Vàng Thị Mến, Vàng Seo Chín, Ea Púk, Cư Prông…
Hẹn ngày gặp lại nhé, những ánh nhìn màu thổ cẩm thân thương…

Ea Kar, ngày bắt đầu mưa