Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

SỐ 261 - tác giả PHẠM TUẤN VŨ





TÍNH DÂN TỘC TRONG BÀI THƠ TƯƠNG TƯ
CỦA NGUYỄN BÍNH



Nhận xét về phong cách thơ Nguyễn Bính, SGK Ngữ Văn 11 viết: “Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc chính bởi hồn thơ này” (tập 2, tr. 49). Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân cũng cho rằng: “Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê đã ẩn náu trong lòng ta” (Nxb Thanh Hóa, 2006, tr, 337). Nguyễn Bính được mệnh danh là “thi sĩ của đồng quê”, thơ ông mang phong vị ca dao và đậm đà tính dân tộc. Bài thơ Tương tư (rút ra từ tập Lỡ bước sang ngang in năm 1940) rất tiêu biểu cho điều này.
Trên phương diện nội dung:
Tính dân tộc trong tác phẩm văn học biểu hiện trước hết qua hiện thực lịch sử, xã hội, đời sống tâm tư tình cảm của một dân tộc được phản ánh lại trong các sáng tác của nhà văn. Điều này cũng dễ hiểu, bởi nhà văn sinh ra và lớn lên, lao động nghệ thuật trong hoàn cảnh xã hội nhất định của dân tộc. Thậm chí với những tác giả sống và viết bên ngoài tổ quốc, tính dân tộc trong tác phẩm của họ vẫn không hề mất đi. Hiện thực đời sống dân tộc tạo nguồn cảm hứng bất tận, cung cấp chất liệu phong phú cho nhà văn sáng tác, đồng thời, những giá trị tinh thần của một dân tộc nuôi dưỡng, chắp cánh không ngừng cho hồn thơ văn mỗi tác giả. Cho nên, dù tự giác hay không tự giác, các tác phẩm được nhà văn viết ra đều ít nhiều mang tính dân tộc. Có thể biểu hiện ở các mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng tính dân tộc là một trong những thuộc tính tất yếu của tác phẩm văn học, tồn tại trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Trong bài thơ Tương tư, có thể kể ra một số dấu hiệu cơ bản của tính dân tộc trong tác phẩm trên phương diện nội dung như sau:
Trước hết, bài thơ gợi lên khung cảnh làng quê truyền thống Việt Nam, cụ thể là thôn quê Bắc bộ ngày trước. Bức tranh làng cảnh ấy hiện lên khá sinh động, chân thực, có các thôn trong làng (Hai thôn chung lại một làng), có dòng sông, bến nước (Bảo rằng cách trở đò giang), mái đình (Nhưng nay cách một đầu đình), có giàn trầu (nhà em có một giàn giầu), hàng cau (Nhà anh có một hàng cau liên phòng)... Tuy chỉ được nói đến như là phương tiện để bày tỏ tình cảm; mặt khác, lại không được đề cập nhiều đến các cảnh vật nhưng bức tranh làng quê nước ta vẫn hiện lên thật đầy đủ, trọn vẹn. Bởi thi nhân đã lựa chọn những hình ảnh rất tiêu biểu cho hồn quê dân tộc, nhắc đến mái đình, bến nước, hàng cau, giàn trầu, ta nghĩ ngay đến quê hương Việt Nam thân yêu. Đây là nét đặc trưng trong đặc điểm làng Việt. Do đó, tính dân tộc trong bài thơ được thể hiện rất rõ nét, điều này ta sẽ thấy kĩ hơn trong các bình diện tiếp theo.
Cùng thời với Nguyễn Bính, nhiều thi sĩ trong phong trào Thơ mới đã miêu tả thành công những “bức tranh quê” Việt Nam như Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… nhưng thổi được cái “hồn xưa đất nước” vào những những bức tranh làng cảnh ấy một cách đậm đà phải đến Nguyễn Bính. Trong thơ của “thi sĩ nhà quê” này, bức tranh thôn quê Việt Nam bao giờ cũng hiện lên gắn với con người dân quê cùng những nét đặc trưng nhất. Trong Trương tư, đó là hình ảnh chàng trai yêu đương, chủ thể trữ tình, hiện lên với nhiều nét rất tiêu biểu cho tính cách, tâm hồn người Việt: Lối suy nghĩ gắn với cỏ cây, trời đất, lấy thiên nhiên làm chuẩn cho nhiều giá trị tinh thần do gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp lâu đời (điều này biểu hiện rất rõ trong thơ ca trung đại. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết “Nửa năm hơi tiếng vừa quen/ Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng” để chỉ sự vận động của thời gian thì trong Tương tư, Nguyễn Bính cũng viết tương tự “Ngày qua ngày lại qua ngày/ Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”); lối nói xa xôi bóng gió mà tình tứ, ý nhị (Hai thôn chung lại một làng/ Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này; Bao giờ bến mới gặp đò; Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông/ Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào…); nét tính cách có phần rụt rè, thiếu chủ động nhưng cũng không ít sự nung nấu, khát khao (Hai thôn chung lại một làng/ Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này; Nhưng đây cách một đầu đình/ Có xa xôi mấy mà tình xa xôi)… Chàng trai trong bài thơ vì thế rất gần gũi, quen thuộc, không chỉ còn là một chàng trai tương tư cá thể, riêng biệt nào nữa mà dường như trở thành con người chung cho nhiều nét tính cách Việt ta có thể bắt gặp trong đó
Trên phương diện hình thức:
Với một nội dung được biểu hiện nhất định sẽ có một hình thức nghệ thuật là cái biểu hiện tương ứng với nó, chính sự hài hòa này làm nên giá trị cho tác phẩm. Với một nội dung đậm đà tính dân tộc thì bài thơ sẽ đi tìm cho mình một hình thức thể hiện mang tính dân tộc tương xứng là điều tất yếu. Có thể thấy, trong bài thơ Tương tư, các bình diện của hình thức nghệ thuật đều mang tính dân tộc rõ nét. Có thể kể ra một số bình diện cơ bản sau đây.
Về từ ngữ, bài thơ kể cả nhan đề có 142 chữ. Trong đó, 36 chữ là từ Hán Việt, chiếm 25,35 %. Từ thuần Việt có 106 chữ, chiếm 74,65 %. Rõ ràng trong bài thơ, từ thuần Việt chiếm một tỉ lệ cao hơn hẳn (gấp 3 lần) so với từ Hán Việt. Đây là điều không phải tác phẩm nào cũng làm được, bởi ta biết, hơn 60% từ vựng tiếng Việt là từ Hán Việt. Mặt khác, tuyệt đại đa số từ Hán Việt trong bài thơ đều là những từ được Việt hóa hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn, rất gần gũi trong đời sống ngôn ngữ của người Việt (tương tư, thôn, Đoài, Đông, bệnh, thành, đầu, đình, tình, xa, hoa, giang hồ…). Bài thơ chiếm đa số là từ thuần Việt, nhiều câu thơ không có từ Hán Việt xuất hiện được đặt cạnh nhau (Một người chín nhớ mười mong một người, Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này, Ngày qua ngày lại qua ngày, Không sang là chẳng đường sang đã đành, Biết cho ai, hỏi ai người biết cho,…) đã phát huy tối đa thế mạnh của từ ngữ thuần Việt trong việc bộc lộ tình cảm của con người Việt, cụ thể là nỗi nhớ mong của chàng trai Việt dành cho cô gái mình thầm thương trộm nhớ bấy lâu. Bởi xét cho cùng, chỉ có tiếng nói dân tộc mới đủ khả năng diễn đạt, phản ánh một cách chính xác, tinh vi những ngõ ngách trong đời sống tinh thần, tâm hồn của dân tộc ấy. Do đó, xét trên phương diện từ ngữ, bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc. Tiếc rằng, ở cuối khổ thơ thứ nhất, tác giả đã để lọt vào hai cụm có chứa từ Hán Việt lạc điệu là “hoa khuê các”, “bướm giang hồ” làm phá vỡ tính hệ thống toàn bài thơ. Tuy vậy, xét trên tổng thể, thành công của tác giả vẫn là chủ yếu, nó được thể hiện ở việc sử dụng từ ngữ một cách trong sáng, linh hoạt, uyển chuyển, tương ứng hài hòa với nội dung mà chúng biểu đạt.
Về thể thơ, Tương tư được viết bằng thể thơ lục bát. Đây là thể thơ thuần Việt, có nguồn gốc nội sinh (từ văn học dân gian) mang trong nó những đặc trưng phù hợp với tâm thức, điệu hồn người Việt. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều đỉnh cao của văn học dân tộc gắn liền với thể thơ này (Truyện Kiều, thơ lục bát Tố Hữu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy…). Với việc tìm về, lựa chọn và sử dụng thuần thục thể thơ truyền thống này, Nguyễn Bính đã làm cho nhiều sáng tác của mình, trong đó có Tương tư mang đậm tính dân tộc, trở nên gần gũi và chiếm được cảm tình của độc giả thuộc nhiều tầng lớp, trong đó có nhiều bài thơ gần như được ca dao hóa, trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn học dân tộc. Thật không quá khi cho rằng Nguyễn Bính là nhà thơ lục bát xuất sắc nhất của phong trào Thơ Mới và đỉnh cao sự nghiệp văn chương của ông gắn liền với thể thơ này. Bài thơ Tương tư là một minh chứng cho điều này.
Về thi liệu, Tương tư đã huy động sử dụng một lượng lớn các chất liệu có nguồn gốc từ văn học dân gian (hình ảnh thôn Đoài-thôn Đông, con đò-bến nước, hàng cau-giàn trầu; lối nói so sánh ví von, ẩn dụ hay gặp trong ca dao dân ca như ở các câu Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Bao giờ bến mới gặp đò, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào,…), từ lời ăn tiếng nói hằng ngày của dân tộc làm cho lời thơ trở nên mộc mạc, dân dã và gần gũi, dễ nhớ dễ thuộc mà cũng rất đỗi thân thương (Bảo rằng cách trở đò giang/ Không sang là chẳng đường sang đã đành/ Nhưng nay cách một đầu đình/ Có xa xôi mấy mà tình xa xôi ?...). Có thể nói, trong khi nhiều thi sĩ cùng thời đội trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp (Hoài Thanh) thì Nguyễn Bính đã chọn cho mình một lối đi riêng, tìm về với cội nguồn dân tộc, sử dụng những chất liệu tưởng như quê mùa, cục mịch nhưng hóa ra lại mang trong mình những giá trị bất ngờ. Và ông đã thành công bởi lối đi riêng độc đáo này trên nhiều phương diện, trong đó có phương diện tính dân tộc đậm đặc. Tương tư với việc lựa chọn, sử dụng linh hoạt các thi liệu như trên là một tác phẩm tiêu biểu cho hướng đi ấy của “nhà thơ chân quê” họ Nguyễn này.         
Tóm lại, Tương tư là một bài thơ mang đậm tính dân tộc. Tính dân tộc trong thi phẩm này biểu hiện rõ nét trên cả hai phương diện nội dung và hình thức. Dĩ nhiên, đây cũng chỉ là sự tách bạch tương đối mà thôi, trong cấu trúc tổng thể, giữa nội dung và hình thức tác phẩm luôn có sự hòa quyện, xuyên thấm vào nhau. Do vậy, cần đặt tính dân tộc của thi phẩm trong tính chỉnh thể hài hòa ấy để có sự cảm thụ một cách toàn diện hơn. Có thể nói, Tương tư là bài thơ rất thành công của Nguyễn Bính bởi nó mang lại nhiều giá trị, trước hết là “đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và tình người đằm thắm thiết tha” thông qua tính dân tộc đậm đà từ tác phẩm.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét